• :
  • :

Linh thiêng cây nêu ngày Tết trong văn hóa dân gian người Việt

Trong những ngày đầu Xuân, cây nêu trong văn hóa người Việt có ý nghĩa xua đuổi tà ma, đón thần linh về ban phước, cầu mong năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình sung túc; trên ngọn có treo vật trang trí biểu tượng, tuy nay với dân tộc Kinh ít phổ biến hơn nhưng vẫn là nét đẹp văn hóa cổ truyền.

Cây nêu được dựng lên trong không khí phấn khởi của người dân, báo hiệu một năm mới sắp đến. Cây nêu thường được dựng lên trong các dịp lễ hội trọng đại như lễ Tạ ơn thần linh (Pơ ríh), lễ Mừng lúa mới (Cha ha roo tamêê), lễ Khai vụ mùa, lễ Dựng làng mới (Pơ rắh đh’đhăng), lễ hội khai năm tạ ơn rừng...

Đặc biệt, lễ Mừng lúa mới thường diễn ra vào tháng Chạp âm lịch là một trong những nghi lễ lớn nhất, kéo dài nhiều ngày đêm, có quy mô toàn làng. Tại đây, bên cây nêu uy nghi, các nghi thức cúng tế trang trọng, những điệu múa hát say đắm, trò chơi dân gian hào hứng và tiệc rượu cần ấm nồng tạo nên một không gian lễ hội đậm đà bản sắc, cuốn hút mọi ánh nhìn.

Ngày hội Trình diễn cây Nêu tại Hà Nội, đồng bào dân tộc Thái trắng ở Sơn La trình diễn nghi thức dựng cây nêu trong lễ Hết Chá. 

Dựng cây nêu ngày Tết là một phong tục tín ngưỡng lâu đời, một truyền thống đẹp của dân tộc Việt Nam. Cây nêu không chỉ mang ý nghĩa “tống cựu, nghinh tân” mà còn là biểu tượng tâm linh, truyền tải những giá trị nhân sinh cao đẹp.

Theo thời gian, ý nghĩa của việc trồng cây nêu ngày Tết đã trở nên phong phú và đa dạng hơn, phù hợp với sự khác biệt trong phong tục, tập quán của từng dân tộc và địa phương. 

Trên ngọn cây nêu, người ta treo một vòng tròn nhỏ cùng các vật phẩm mang tính biểu tượng, gắn liền với phong tục và quan niệm truyền thống của người xưa. Người Kinh thường sử dụng cây tre hoặc các loại cây thuộc họ tre để làm cây nêu. Trong khi đó, các dân tộc vùng cao lại chọn những loại cây gỗ cứng, chắc chắn, được trang trí bằng các hoa văn vẽ quanh thân và gắn thêm tua đại, tạo nên nét đặc trưng riêng của văn hóa từng vùng.

Thời điểm dựng cây nêu phụ thuộc vào phong tục của từng vùng miền. Người Kinh thường dựng cây nêu vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, để xua đuổi ma quỷ trong những ngày ông Công, ông Táo về trời.

Chia sẻ về tục dựng câu nêu, TS. Trần Đoàn Lâm, thành viên Câu lạc bộ Đình Làng Việt cho biết, dựng cây nêu ngày Tết là một phong tục lâu đời của người Việt Nam. Cây tre được chọn dựng cây nêu là cây khỏe mạnh, đã chặt hết các cành, chỉ để lại ngọn và lá phía trên. Không phải ngẫu nhiên người dân ta chọn cây tre để dựng cây nêu, bởi lẽ cây tre phổ biến ở làng quê Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cây tre cũng tượng trưng cho người Việt Nam, mềm dẻo nhưng rất cứng rắn, bất khuất.

Người Việt dựng vào ngày 23 tháng Chạp Âm lịch (ngày ông Công ông Táo) để xua đuổi ma quỷ, bảo vệ bình an cho gia đình. (Ảnh: Nghi lễ dựng cây nêu của người Kinh tại Làng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam).

Đặc biệt, trong các nghi lễ, lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS), ngày nay cây nêu vẫn là biểu tượng tâm linh kết nối giữa trời - đất, con người và thần linh, không thể thiếu trong mỗi dịp Tết đến xuân về. Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có hình thức thể hiện cây nêu mang ý nghĩa riêng. Ở một số vùng miền núi phía Bắc, như Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, các dân tộc như Tày, Nùng lại trồng cây nêu vào chiều 30 tháng Chạp âm lịch.

Còn trong lễ hội Gầu Tào của người Mông, cây nêu được dựng từ ngày 3 đến ngày 5 tháng Giêng âm lịch và hạ vào ngày 7 tháng Giêng; đồng bào Sán Dìu dựng cây nêu trong lễ Cầu mùa. Ngoài ra, cây nêu cũng xuất hiện trong các lễ hội khác như hội lồng tồng của người Tày, cây pồn pông của người Mường... đều là những biểu hiện của phong tục dựng cây nêu.

Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, và theo truyền thống, nó sẽ được giữ trong 15 ngày. Thông thường, vào mùng 7 tháng Giêng, cây nêu sẽ được hạ xuống.

Trong các nghi lễ, lễ hội của đồng bào DTTS, cây nêu là biểu tượng tâm linh kết nối giữa trời - đất, con người và thần linh.

Đối với đồng bào các DTTS ở Tây Nguyên, cây nêu có mặt trong hầu hết các lễ hội, nghi lễ, lễ cúng. Cây nêu thường bố trí ở sân nhà rông, cao vút lên trời xanh, trông uy nghi. Cây Nêu trở thành nét đẹp văn hóa, điểm tựa tinh thần, gửi gắm khát vọng về một năm mới an lành, đủ đầy của người dân địa phương. Từ lễ hội lớn trong phạm vi cộng đồng như mừng buôn làng mới, nhà rông mới, mừng lúa mới, tìm ra nguồn nước mới đến các nghi lễ trong gia đình, dòng tộc như mừng thọ, đặt tên cho bé, lễ cưới, lễ tang… cây nêu đều giữ vai trò quan trọng.

Hình dáng, màu sắc, hoa văn của cây nêu thể hiện rõ quy mô lớn hay nhỏ của lễ hội. Cây nêu Tây Nguyên thường có 4 màu chủ đạo: vàng, đỏ, trắng, đen. Thân cây nêu được tô vẽ cầu kỳ, vốn là những màu sắc chính trong nghệ thuật điêu khắc dân gian của đồng bào Tây Nguyên.

Cũng là cây nêu, nhưng mỗi DTTS lại có những nét riêng khác nhau. Với đồng bào Xơ Đăng, cây nêu lại tượng trưng cho cây lúa. Việc dựng cây nêu đầu năm mới cầu mong mùa màng bội thu, mọi gia đình no ấm.

Vì thế, cây nêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ngày đầu năm mới của người Xơ Đăng, đặc biệt là lễ cúng mừng lúa mới. Để làm cây nêu, đồng bào Xơ Đăng chọn cây lồ ô to, đẹp và thẳng để làm thân cây nêu. Thân cây nêu được tô màu trắng, đen và đỏ. Gốc cây nêu có một sàn đan bằng tre để vật dâng cúng thần linh.

Nghi lễ, lễ hội dựng cây nêu.

Còn với cây nêu của đồng bào M’nông trong các lễ hội thường cao 3-5m trở lên, chia làm 3 tầng (tùy theo lễ cúng). Trong đó, tầng trên cùng là hình con chim én, có ý nghĩa thể hiện khát vọng cuộc sống, vươn cao bay xa, trừ tà, đuổi thú và được trang trí lục lạc, bông lúa. Phía dưới là một mô hình tròn được làm bằng quả bầu, tượng trưng cho đất. Xung quanh quả bầu có gắn bông gòn trắng tượng trưng cho nước. Bốn góc treo những chùm tua lồ ô, tượng trưng cho những bông lúa trĩu hạt.

Tầng giữa của cây nêu được làm bằng tấm đan từ cây lồ ô, bốn góc được gắn những con vật được đan bằng tre, nứa như dê, trâu, chim, gà… Đây là nơi mà các vị thần linh về ngự, nên các các lễ vật dâng cúng gồm con gà, gạo nếp, rượu, thịt nướng, máu của con vật hiến tế đều đặt ở đây. Tầng dưới cùng của cây nêu cách mặt đất 2m, để người cúng tế có thể nói chuyện với thần linh, xin thần linh đem lại cho bon làng sự giàu mạnh, con người khỏe mạnh, làm ra nhiều của cải, xua đuổi những cái xấu, đem lại cho bon làng sự bình yên, tốt đẹp.

Theo già làng Y Xuyên, ở bon Ja Răh, Xã Nâm Nung (tỉnh Lâm Đồng), dựng cây nêu là việc làm quan trọng, bon làng phải họp bàn, huy động nam giới vào rừng chọn những cây tre thẳng, chắc. Theo quan niệm của đồng bào, người dựng cây nêu phải là người đàn ông có uy tín trong bon làng, am hiểu về cách dựng, trang trí, khéo léo và có kinh nghiệm về cuộc sống, hiểu biết về thế giới tự nhiên.

“Đối với đồng bào dân tộc M’nông ở xã Nâm Nung, cây nêu là nơi trú ngụ của các thần linh, nơi các vị thần sẽ về ngự và tham dự các lễ hội cùng bon làng”, già làng Y Xuyên chia sẻ.

Chuẩn bị nghi lễ cúng. Sau khi cúng bà con tiến hành dựng cây nêu lên, hoàn thành, chủ tế tiếp tục khấn báo cáo với Yàng và thần linh việc dân bản đã dựng xong cây nêu.

Với dân tộc Ê Đê, cây nêu được trang trí những họa tiết, hoa văn khác nhau tùy theo ý nghĩa của từng lễ hội, nghi lễ nhưng đều mang ý nghĩa tạ ơn, cầu cho gia đình, buôn làng ấm no, hạnh phúc. Cây nêu của đồng bào Ê Đê thường có chiều cao thấp hơn các dân tộc khác, vì các lễ hội của người Ê Đê được tổ chức trong nhà dài nhiều hơn. Họa tiết, trang trí cây nêu cũng đơn giản, màu sắc chủ đạo là màu đỏ, đen và vàng. Người Ê Đê làm cây nêu bằng gỗ mềm, như cây xoan và thường chọn cây có thân thẳng, cây không bị sâu đục, lá không úa vàng.

Theo ông Y Kô Niê, dân tộc Ê Đê ở phường Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), ý nghĩa của biểu tượng và họa tiết từng phần trên cây nêu của người Ê Đê được ví như thân hình của một vị thần; Phần chân cây nêu được trang trí bằng họa tiết cách điệu như chong chóng, tổ ong với hai màu đỏ và vàng, là nơi mọi người trong cộng đồng, khách mời gửi gắm mơ ước, cầu xin các vị thần phù hộ.

Trong khi đó, dân tộc Ba Na định cư tại Quảng Ngãi (tỉnh Kon Tum cũ), tỉnh Bình Định (Gia Lai cũ) được xem là dân tộc sở hữu cây cây Nêu cao nhất Tây Nguyên. Thông thường cây sẽ cao từ 10 đến 15m, thậm chí có cây cao đến 18-20m. Người Ba Na không dùng cây gỗ lớn để dựng cây nêu mà chỉ sử dụng những cây có kích thước nhỏ nhưng dài, thẳng, chắc chắn được dựng lên và nối với một thân tre.

Điều đặc biệt ở cây nêu của người Ba Na là phần gốc cây lúc nào cũng chụm lại với nhau đưa lên thành hình vuông. 4 cây tre vươn lên 4 góc trên có đính những bông hoa gạo bằng gỗ tượng trưng cho nghi lễ nông nghiệp. Cây cột chính của cây nêu, người Ba Na xem là ngọn lửa, chính vì thế thân cây sẽ được sơn màu đỏ là màu chủ đạo. Ngọn lửa đối với họ quan niệm về sự trường tồn vĩnh cửu, không bao giờ được tắt trong nhà.

Bên cây nêu uy nghi, những điệu múa hát say đắm, trò chơi dân gian hào hứng và tiệc rượu cần ấm nồng tạo nên một không gian lễ hội đậm đà bản sắc, cuốn hút mọi ánh nhìn.

Nhắc đến cây nêu của người Gia Rai, phải kể đến cây nêu bến nước. Người Gia Rai nói riêng và các dân tộc định cư lâu đời tại Tây Nguyên nói chung trước đây không dùng nước giếng mà sử dụng nguồn nước trực tiếp tự nhiên từ sông, suối. Các nguồn nước này được dẫn về nhà bằng các ống tre, nứa, lồ ô để sử dụng.

Vì thế, khi tìm được một nguồn nước mới, dân làng tiến hành nghi thức dựng cây Nêu cúng bến nước với ý niệm cầu mong thần nước phù hộ để cho nguồn nước lúc nào cũng thơm ngon và chảy suốt ngày đêm không bao giờ đứt mạch. Vì vậy, cây nêu cúng bến nước được xem cây nêu rất linh thiêng đối với người Gia Rai.

Có thể thấy, cây nêu của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên ngoài việc mang các yếu tố về văn hóa, lịch sử, còn mang ý nghĩa là sự kết nối giữa đất và trời, con người và thần linh, nhằm đưa những mong muốn, ước nguyện của dân làng vể cuộc sống ấm no. Sự hiện hữu phổ biến của cây nêu đối với người Tây Nguyên được nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa ví như cây đa ở sân đình của người Việt.

Giữa những ngày Tết cận kề, hình ảnh cây nêu vươn mình trong ánh nắng như sợi dây kết nối giữa quá khứ và hiện tại, mang theo ước vọng về một năm mới bình an, đủ đầy, yên vui và hạnh phúc.