Từ nếp học gia phong đến danh vọng triều đình
Nguồn tư liệu gia phả cho biết, Nguyễn Huy Tựu là hậu duệ đời thứ 9 của cụ Nguyễn Uyên Hậu - từng nhậm chức Ngụ kinh Bác sĩ, đảm nhiệm việc dạy học ở Quốc Tử Giám dưới thời vua Lê Thánh Tông, cũng là người khai sơn phá thạch lập nên làng Trường Lưu. Theo nghiên cứu của nhà sử học Lê Văn Lan, Nguyễn Huy Tựu là cháu nội của cụ Nguyễn Công Ban và là con trai cụ Nguyễn Công Phát.
Nhiều đời con cháu trong dòng họ đều theo con đường học hành, khoa cử. Đến đời thứ 9 là Nguyễn Huy Tựu thì lịch sử dòng họ được xem là bước sang trang mới; cũng từ đây, chữ “Huy” được lấy làm tên đệm, chính thức mở đầu cho dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu.
Sách “Thoái thức ký văn” của Trương Đăng Trinh còn ghi: Nguyễn Huy Tựu là người có trí tuệ thông minh hơn người, đậu Hương cống năm Tân Mão (1711), đậu Tam trường năm Đinh Dậu (1717), đậu Hương giải năm Tân Sửu (1721).
Theo nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Huy Tựu tham gia quan trường rất sớm, nhưng chưa rõ quá trình thăng tiến từ buổi đầu đến năm 1749; chỉ biết năm này ông giữ chức Huấn đạo phủ Trường Khánh, Thiêm sự viện Thiêm sự. Sắc phong năm đó ghi rõ tước Nhã Nam. Cùng năm, ông được thăng Tham chính Thái Nguyên.
Nguyễn Huy Tựu làm quan trong quãng thời gian trị vì của chúa Trịnh Giang và Trịnh Doanh. Trịnh Giang bỏ bê việc nước, dân tình khốn khó, nổi dậy khắp nơi.
Năm 1740, quần thần phế Trịnh Giang, tôn Trịnh Doanh lên ngôi. Chúa Trịnh Doanh vừa chú tâm dẹp loạn, vừa chú trọng cải cách triều chính để chấn hưng đất nước. Nguyễn Huy Tựu đã nhiều lần cùng gia tộc huy động hết tài sản để giúp Trịnh Doanh bình ổn tình hình.

Di sản “Hoàng hoa sứ trình đồ” là cuốn sách cổ được sao chép vào năm 1887 từ bản gốc do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh biên soạn.
Ghi nhận công lao đó, chúa Trịnh liên tục tấn phong ông giữ các trọng trách trong triều. Các sắc phong hiện còn lưu giữ trong dòng họ thể hiện sự đánh giá cao của triều đình đối với những đóng góp của ông trong lúc nguy nan. Trong số các đạo sắc còn lưu giữ, có 4 đạo sắc phong cho Nguyễn Huy Tựu, gồm: 2 đạo niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 10 (1749), 1 đạo năm thứ 28 (1767) và 1 đạo năm thứ 44 (1783).
Các sắc phong này ghi nhận quá trình thăng tiến của ông, từ chức Mậu Lâm tá lang, Tri phủ phủ Trường Khánh, được thăng lên Chiêm sự ở Viện Chiêm sự; giữ các chức Triều liệt đại phu, Tham chính, Tri tán trị thừa chánh sứ, tước Khiết Nhạ nam; đồng thời được phong tặng Thăng Tả thị lang Bộ Công, hàm Thượng thư Bộ Công và gia tặng tước Vương - Anh liệt Đại vương.
Nguyễn Huy Tựu có 6 người con đều đỗ đạt, thành danh. Con trưởng là Nguyễn Huy Oánh đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ tam danh (Thám hoa) khoa thi Mậu Thìn (1748), làm quan đến Thượng thư, từng đi sứ nhà Thanh và là tác giả “Hoàng hoa sứ trình đồ” được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa thế giới.
Người con thứ hai là Nguyễn Huy Quýnh đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi Nhâm Thìn (1722), được tấn phong Giám sát ngự sử xứ Sơn Nam. Người con thứ ba là Nguyễn Huy Cự, đỗ Hương giải năm Mậu Ngọ (1738), được triều Lê phong vương, triều Nguyễn phong thần và là một trong hai vị Thành hoàng của làng văn vật Trường Lưu.
Người con thứ tư là Nguyễn Huy Kiên đỗ Hương cống năm Kỷ Mão (1759), làm quan đến Lại bộ Thiêm sự. Người con thứ năm là Nguyễn Huy Khản, đỗ Sinh đồ. Người con thứ sáu cũng đỗ đạt cao, làm quan đến Phó sứ đồn điền.

Một số hiện vật mộc bản trường học Phúc Giang - Di sản tư liệu thế giới.
Khai mở văn phái, dựng nền Phúc Giang
Nhiều nghiên cứu về văn phái Trường Lưu xưa và nay đã suy tôn Nguyễn Huy Tựu là người khai sáng, làm rạng rỡ văn phái này. Theo nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh trong “Các tác giả Hán Nôm Nghệ - Tĩnh” (Thư viện Hà Tĩnh, xuất bản năm 1996), Nguyễn Huy Tựu có sự nghiệp sáng tác văn học hết sức đồ sộ; trong đó, bộ sách “Thiên văn bảo kính” và “Địa lý minh kính” là hai kiệt tác.
Dẫu trước tác của ông phần lớn đã bị thất truyền qua biến thiên lịch sử, chiến tranh, thiên tai và nhân tai, nhưng những gì còn lại cũng đủ khẳng định ông là một tác giả lớn, giàu lòng ái quốc, thương dân.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần cho biết, tại Hội thảo khoa học “Nghiên cứu tư liệu Hán - Nôm về biển đảo và biên giới của dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu” diễn ra vào năm 2017, nhiều nghiên cứu khảo sát tư liệu liên quan đến Nguyễn Huy Tựu đều đánh giá cao tình cảm của ông với quê hương, đất nước qua bài thơ “Tự thuật”: “Nhất nghệ tằng vô tiểu thử sinh/Hể cầu phận ngoại kế thân danh/Dưỡng tâm đa thiểu nam canh xuất/Trước thể thô tinh nữ chức thành/Mưu quốc dĩ văn đa trí lược/Yên biên tự hữu tưởng can thành/ Lâm song đối cảnh quần thư duyệt/Hoa hạo duy tư lạc thái bình”.
(Nghề mọn tay không chút thẹn mình/ Hơn thua ngoài cuộc phó vô tình/Ngày cơm nhiều ít trai cày cấy/Mùa áo dày thưa gái dệt dành/Mưu quốc làng văn nhiều kẻ giỏi/Yên biên tướng võ lắm tay sành/Tựa song mở quyển khuây ngày tháng/ Thảnh thơi tấc dạ cảnh thái bình - Nguyễn Huy Cừ tạm dịch).
Về hưu, Nguyễn Huy Tựu trở về quê nhà, xây dựng Phúc Giang thư viện và mở trường học Phúc Giang. Theo “Nguyễn Gia trang khoa danh điều bi ký” của Nguyễn Huy Oánh viết năm Canh Thìn (1760), lưu tại Viện Hán Nôm, thì: “Nho sinh theo học; trong đó, hàng chục người đỗ đạt cao như Nguyễn Huy Oánh, Phan Huy Cận, Nguyễn Huy Quýnh…”.
Tiến sĩ Phan Huy Cận trong lời tựa “Ngụ kinh toản yếu đại toàn”, viết: “Tôi lúc nhỏ theo học tiên sinh tham chính họ Nguyễn (Nguyễn Huy Tựu), người làng Lai Thạch. Thám hoa (Nguyễn Huy Oánh), con trai trưởng của tiên sinh, lớn hơn tôi 9 tuổi, cùng học với tôi. Tôi may mắn thu lượm được nhiều điều tốt đẹp để tự hoàn thiện mình”.
“Với trường học Phúc Giang, làng Trường Lưu khi ấy trở thành một trung tâm nho học lớn của cả nước, có tới hàng nghìn sĩ tử. Nét độc đáo của trung tâm xa kinh thành này là các bậc thầy tự biên soạn giáo trình, tự khắc bản, tự in ấn sách phục vụ việc dạy và học. Mộc bản Trường Lưu ra đời từ đó. Nguyễn Huy Tựu vừa là soạn giả, hiệu trưởng, giáo viên, vừa là người chỉ đạo tổ chức việc khắc in giáo trình. Hai tập giáo trình được khắc in đầu tiên vào năm 1758 do ông biên soạn là “Tỉnh lý toản yếu đại toàn”, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần cho biết.
Chọn một khu đất có khí tượng tươi sáng, Nguyễn Huy Tựu xây dựng thư viện Phúc Giang làm giảng đường, đồng thời lưu giữ giáo trình và sách tham khảo cho môn sinh. Theo “Thư viện quy lệ” của Nguyễn Huy Oánh, Phúc Giang thư viện được hình thành trước năm 1767. Sách “Đại Nam thực lục chỉnh biên” còn ghi: thư viện Phúc Giang chứa hàng vạn cuốn sách; nơi đây đã đào tạo hơn 30 Tiến sĩ.

Dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu đón bằng xếp hạng Di tích cấp quốc gia mộ danh nhân Nguyễn Huy Tựu.
Gìn giữ di sản, tôn vinh Phúc thần
Về sau, thư viện Phúc Giang được dùng làm nơi thờ tự Thám hoa Nguyễn Huy Oánh và lưu giữ mộc bản. Theo tư liệu, vào tháng 8/1950, một trận lụt lớn gây hư hại nghiêm trọng thư viện; hơn 1.700 mộc bản còn lại được con cháu dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu chuyển về bảo quản tại nhà thờ Nguyễn Huy Tựu. Năm 1991, khi lập hồ sơ vinh danh di tích, nhà thờ còn 475 bản; đến nay còn khoảng gần 400 tấm.
Trong số các ấn phẩm còn lại của dòng họ Nguyễn Huy, tập “Quốc sử toản yếu” của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh là một công trình nghiên cứu, phổ biến kiến thức lịch sử Việt Nam tương đối đầy đủ. Đây cũng là sự tiếp nối tư tưởng giáo dục tiến bộ “dân ta phải biết sử ta” của Nguyễn Huy Tựu. Ý thức về bảo vệ quê hương, đất nước, niềm tự hào về các anh hùng giải phóng dân tộc khỏi ách Bắc thuộc được thể hiện rõ qua từng trang sách.
Bộ sách “Tính lý toản yếu đại toàn” có 2 quyển: quyển thượng hơn 100 trang, quyển hạ 72 trang. Nguyên bản do Nguyễn Huy Tựu soạn; quyển 1 do Nguyễn Huy Oánh viết chữ nên rất chân phương, sắc sảo; quyển 2 do Nguyễn Huy Tựu khảo duyệt.
Trong lời tựa ấn phẩm này, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh đã dùng những lời hết sức trân trọng để đề cao giá trị cuốn sách: “Nhà ta từ triều Trần đã đời đời vun trồng sự học. Cha ta thuở nhỏ nghèo đói lại càng gắng sức học hành. Việc tiến hành hiệu đính cuốn tính lý kéo dài nhiều năm. Ta lên 6 tuổi đi học, cha lấy cuốn sách này để khai giảng. Lớn lên ta đi học nhiều nơi, cũng từng tham duyệt sách riêng của các nhà nhưng chẳng được sự giản dị mà đầy đủ như cuốn sách hiệu đính của cha… Ta bèn tự tay chép sách, sai thợ khắc in để lưu truyền rộng rãi chí hướng của người”.
Với những giá trị độc đáo đó, năm 2016 UNESCO đã công nhận Mộc bản Trường Lưu là Di sản Tư liệu Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tròn hai năm sau, một di sản khác của dòng họ Nguyễn Huy là “Hoàng hoa sứ trình đồ” tiếp tục được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu Ký ức thế giới. Đây là cuốn sách cổ được sao chép vào năm 1887 từ bản gốc do Nguyễn Huy Oánh biên soạn trong giai đoạn 1765 - 1767 dưới triều vua Lê Hiển Tông. Bản chép tay duy nhất này hiện được lưu giữ tại tư gia của con cháu dòng họ Nguyễn Huy.
Là một nhà sư phạm lớn, Nguyễn Huy Tựu đặc biệt chú trọng việc khuyến học, khuyến tài. Theo “Nguyễn Gia trang khoa danh điền bi ký”, ông dành dụm tiền của, mua được một mẫu ruộng “nhất đẳng điền” làm “khoa danh điền”. Những người trong dòng họ đỗ đạt cao nhưng cần tiếp tục học tập sẽ được cày cấy trên thửa ruộng này. Kế tiếp sự nghiệp của cha, Nguyễn Huy Oánh đã mua thêm 19 mẫu, nâng tổng số ruộng khoa danh Trường Lưu lên 20 mẫu.
Nguyễn Huy Tựu mất ngày 24/9 năm Canh Ngọ (1750) tại làng Trường Lưu, thọ 61 tuổi; đến năm 1783, được triều đình truy phong Tả thị lang Bộ Công, tước Khiết Nhã hầu, gia tăng Anh Liệt Đại vương. Triều Nguyễn truy phong Dực Bảo truy hưng Phúc thần năm 1898 và phong thêm Đôn Ngưng tôn thần năm 1924.
Tưởng nhớ công đức của Thành hoàng làng - Hương cống Nguyễn Huy Tựu, hằng năm vào ngày 13/6 âm lịch, dân làng Trường Lưu tổ chức rước bài vị ông về đình làng để tế lễ. Phần mộ của ông vẫn được giữ nguyên từ năm 1752 đến nay. Năm 2012, UBND tỉnh Hà Tĩnh công nhận là di tích cấp tỉnh; năm 2024 mộ danh nhân Nguyễn Huy Tựu được xếp hạng di tích cấp quốc gia.





In bài viết