Nâng tầm giáo dục đại học là nâng tầm vị thế quốc gia
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ trong đội ngũ những người làm giáo dục và quan tâm đến giáo dục. Bảy nhiệm vụ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ là những định hướng phát triển đối với một cơ sở giáo dục đại học trọng điểm.
Phía sau những yêu cầu ấy là một tư duy phát triển rõ ràng: Muốn đất nước bước vào kỷ nguyên tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo thì phải xây dựng được những đại học đủ mạnh để dẫn dắt tương lai quốc gia.
Điều đáng chú ý là cả 7 nhiệm vụ đều vượt ra ngoài phạm vi dạy và học thuần túy. Từ yêu cầu phải luôn tự soi mình trong trách nhiệm quốc gia; trở thành đại học tinh hoa hiện đại; đi đầu trong đổi mới sáng tạo, công nghệ chiến lược; cho tới vai trò kết nối tri thức với phát triển, ngoại giao học thuật và giáo dục lý tưởng cho thế hệ trẻ... tất cả đều cho thấy đại học đang được đặt vào vị trí mới: Không chỉ là nơi đào tạo nhân lực mà còn là “trung tâm tạo dựng sức mạnh quốc gia” trong thời đại mới.
|
| Ảnh minh họa: giaoducthoidai.vn |
Trong lịch sử hiện đại, hầu như không có quốc gia nào trở thành cường quốc mà không sở hữu những đại học lớn. Phía sau sự cất cánh của Hoa Kỳ là hệ thống đại học nghiên cứu hàng đầu thế giới. Phía sau sự vươn lên của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc đều là chiến lược đầu tư rất mạnh cho giáo dục đại học, khoa học-công nghệ và nhân tài.
Bởi trong kỷ nguyên hôm nay, khoảng cách giữa các quốc gia không còn được quyết định bởi tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ. Điều tạo nên ưu thế cạnh tranh ngày càng là tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh quốc gia trước hết là năng lực trí tuệ quốc gia. Và nơi kết tinh năng lực trí tuệ ấy chính là đại học.
Vì vậy, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Đại học Quốc gia Hà Nội phải luôn tự soi mình trong trách nhiệm quốc gia và khát vọng vươn lên của dân tộc, điều đó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng. Hai chữ “quốc gia” chính là lời nhắc nhở về trách nhiệm lịch sử của một đại học đầu tàu.
Một đại học quốc gia không thể chỉ dừng lại ở đào tạo ra những người tốt nghiệp ra có việc làm. Đó phải là nơi hội tụ những bộ óc ưu tú nhất, nơi hình thành những tư tưởng lớn, công nghệ lớn và con người có khả năng dẫn dắt xã hội. Đó phải là nơi góp phần giải đáp các bài toán chiến lược của đất nước, từ chuyển đổi số, công nghệ lõi, năng lượng xanh, phát triển văn hóa cho tới quản trị xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nhưng muốn thực hiện được vai trò ấy thì điều đầu tiên cần thay đổi chính là cách nhìn về giáo dục đại học. Trong một thời gian khá dài, giáo dục đại học Việt Nam vẫn được nhìn nhận chủ yếu như lĩnh vực cung ứng nhân lực cho thị trường. Cách tiếp cận ấy đúng nhưng chưa đầy đủ. Đại học không chỉ là nơi đào tạo nghề nghiệp. Đại học còn là nơi tạo ra sức mạnh trí tuệ của quốc gia. Nếu chỉ nhìn đại học như một đơn vị sự nghiệp công lập thông thường thì rất khó tạo ra những đại học tầm vóc lớn. Không thể vừa kỳ vọng đại học cạnh tranh quốc tế, làm chủ công nghệ lõi, đào tạo nhân tài đỉnh cao, vừa quản lý đại học bằng tư duy hành chính nặng kiểm soát, bình quân và xin-cho.
Bởi vậy, điều kiện đầu tiên để thực hiện tốt 7 nhiệm vụ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra chính là đổi mới mạnh mẽ thể chế quản trị đại học. Muốn có đại học lớn thì phải có quyền tự chủ thực chất. Đây gần như là quy luật chung của mọi nền giáo dục tiên tiến. Một đại học muốn sáng tạo thì phải có không gian sáng tạo. Nếu mọi quyết định đều phụ thuộc quá nhiều vào thủ tục hành chính, quy trình tầng nấc và cơ chế phê duyệt cứng nhắc thì rất khó hình thành môi trường học thuật đỉnh cao.
Tự chủ ở đây phải toàn diện và đồng bộ: Tự chủ tài chính, tự chủ học thuật, tự chủ tổ chức bộ máy, tự chủ nhân sự và chiến lược phát triển. Đại học phải được quyền lựa chọn hướng nghiên cứu, xây dựng nhóm học thuật mạnh, hợp tác quốc tế và phân bổ nguồn lực theo mục tiêu chiến lược của mình.
Đi cùng với tự chủ phải là trách nhiệm giải trình rất cao. Đại học phải được đánh giá bằng chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, đóng góp cho đất nước và uy tín quốc tế chứ không phải bằng số lượng thủ tục hay báo cáo hình thức.
Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Đại học Quốc gia Hà Nội trở thành đại học tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực và có uy tín quốc tế, điều đó cũng đồng nghĩa với yêu cầu phải thay đổi mạnh cơ chế đầu tư cho giáo dục đại học. Không quốc gia nào có đại học đẳng cấp quốc tế mà đầu tư cho giáo dục đại học lại thấp và dàn trải. Những đại học lớn trên thế giới đều được đầu tư rất mạnh trong thời gian dài, đặc biệt cho nghiên cứu khoa học và hạ tầng đổi mới sáng tạo.
Trong khi đó, đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam nhiều năm qua vẫn còn hạn chế so với yêu cầu phát triển. Không ít phòng thí nghiệm lạc hậu, hạ tầng nghiên cứu thiếu đồng bộ, kinh phí nghiên cứu phân tán và thủ tục khoa học còn nặng nề. Đặc biệt, phải khắc phục triệt để lối tư duy “tự chủ là tự lo”, tự chủ đến đâu, cắt ngân sách đến đấy. Đây là điều Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rất rõ. Chưa kể, nếu không thay đổi cách đầu tư thì rất khó tạo đột phá. Cần chuyển từ tư duy “đầu tư dàn đều” sang đầu tư chiến lược có trọng tâm. Nhà nước cần tập trung nguồn lực để xây dựng một số đại học và trung tâm nghiên cứu ngang tầm khu vực, có khả năng cạnh tranh quốc tế trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, vật liệu mới hay công nghệ xanh.
Đặc biệt, phải chấp nhận đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản. Không thể có công nghệ lõi nếu thiếu nền tảng khoa học cơ bản mạnh. Nhiều công nghệ làm thay đổi thế giới hôm nay đều bắt đầu từ những nghiên cứu tưởng như rất xa thực tiễn trong các trường đại học nhiều thập niên trước.
Một yêu cầu rất quan trọng khác trong 7 nhiệm vụ là xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành nơi hội tụ trí tuệ quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc phải có cơ chế vượt trội để thu hút và trọng dụng nhân tài. Muốn có đại học mạnh thì trước hết phải có nhà khoa học mạnh. Đây vẫn đang là một trong những điểm nghẽn của giáo dục đại học Việt Nam. Không ít nhà khoa học giỏi chưa có môi trường làm việc tương xứng. Thu nhập chưa tương xứng, thủ tục nghiên cứu phức tạp, cơ chế đánh giá nặng hình thức và môi trường học thuật chưa thật sự cạnh tranh khiến việc thu hút nhân tài gặp nhiều khó khăn.
Nếu muốn Đại học Quốc gia Hà Nội trở thành trung tâm trí tuệ quốc gia thì phải mạnh dạn xây dựng cơ chế tuyển dụng toàn cầu. Người tài phải được đãi ngộ theo năng lực và giá trị sáng tạo chứ không chỉ theo ngạch bậc hành chính. Các nhóm nghiên cứu mạnh phải được trao quyền tự chủ lớn hơn về nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế. Quan trọng hơn, phải xây dựng môi trường học thuật thật sự tự do, trung thực và sáng tạo. Một nền khoa học mạnh không thể phát triển trong môi trường nặng bệnh thành tích, hình thức và tâm lý “an toàn”. Đại học phải là nơi khuyến khích tư duy độc lập, phản biện khoa học và sáng tạo mới.
Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Đại học Quốc gia Hà Nội phải đi đầu trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ chiến lược, điều đó cũng đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản mô hình đào tạo. Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Nhiều ngành nghề hôm nay có thể biến mất chỉ sau vài năm bởi trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Vì vậy, đại học không thể tiếp tục đào tạo theo mô hình cũ, nặng ghi nhớ kiến thức và xa rời thực tiễn.
Điều xã hội cần hôm nay không chỉ là người có bằng cấp mà là người có năng lực sáng tạo, thích ứng và học tập suốt đời. Đại học phải chuyển mạnh từ “truyền thụ kiến thức” sang “khơi mở năng lực”. Sinh viên phải được học trong môi trường liên ngành, gắn với nghiên cứu, công nghệ và thực tiễn phát triển.
Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành trung tâm kết nối tri thức với phát triển cũng đặt ra bài toán hình thành hệ sinh thái liên kết mạnh giữa đại học-doanh nghiệp-Nhà nước-địa phương. Đây là điểm còn yếu của giáo dục đại học hiện nay. Không ít nghiên cứu vẫn nằm trên giấy, khó đi vào đời sống. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia phát triển, đại học chính là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Từ đại học hình thành các doanh nghiệp công nghệ, các trung tâm khởi nghiệp và những đột phá lớn của nền kinh tế.
Muốn thay đổi điều đó, cần tạo cơ chế thuận lợi để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp khoa học-công nghệ trong trường đại học và thúc đẩy hợp tác nghiên cứu với doanh nghiệp. Nhà khoa học phải được hưởng lợi ích xứng đáng từ sáng tạo của mình.
Đặc biệt, phải xây dựng được cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ Nhà nước và doanh nghiệp đối với đại học. Khi đại học gắn chặt hơn với các bài toán thực tiễn của quốc gia, nghiên cứu khoa học mới thực sự trở thành động lực phát triển.
Và cuối cùng, khi nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành địa chỉ tiêu biểu của ngoại giao học thuật và giáo dục lý tưởng cho thế hệ trẻ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đặt ra một yêu cầu rất căn bản: Đại học phải trở thành nơi kết tinh văn hóa trí thức của dân tộc.
Một đại học lớn không chỉ được tạo nên bởi các phòng học hiện đại, thiết bị đắt tiền, mà còn bởi văn hóa học thuật. Đó là tinh thần trung thực, khát vọng sáng tạo, trách nhiệm xã hội và lý tưởng phụng sự đất nước. Nếu đại học chỉ chạy theo thành tích hình thức, thứ hạng hay số lượng công bố mà thiếu chiều sâu học thuật và tinh thần phụng sự thì rất khó trở thành đại học lớn đúng nghĩa.
Suy cho cùng, 7 nhiệm vụ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội cũng chính là những yêu cầu lớn đối với giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Muốn đất nước vươn lên bằng tri thức thì phải có những đại học đủ mạnh để nâng tầm trí tuệ, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và kiến tạo tương lai đất nước.
Đầu tư cho đại học hôm nay, vì thế, thực chất là đầu tư cho vị thế Việt Nam nhiều thập niên sau.





In bài viết