• :
  • :

Đề xuất cơ chế để Cần Thơ thành động lực tăng trưởng của Đồng bằng sông Cửu Long

Bên cạnh những lợi thế chiến lược mới, theo đại biểu Quốc hội, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi Cần Thơ là cực tăng trưởng vẫn đối mặt với những thách thức lớn về nguy cơ tụt hậu.

Sáng 28/11, Quốc hội thảo luận ở hội trường Dự án Luật Quy hoạch sửa đổi; việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Sớm xác định lộ trình đầu tư tuyến đường sắt nối TP HCM với Cần Thơ

Ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ góp ý về các nội dung quy hoạch liên quan đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng đô thị Cần Thơ.

Ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ. Ảnh: P.Thắng

“Việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia, đặc biệt sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và những thay đổi về định hướng chiến lược, đã mang lại những lợi thế mới cho Cần Thơ”, ông Tuấn Anh nhận định.

So với quy hoạch trước đây, theo ông Tuấn Anh, Cần Thơ ngày nay đã mở rộng phạm vi và quy mô hành chính, có lợi thế kinh tế biển và cửa ngõ quốc tế, hoàn thiện khung hạ tầng giao thông, nâng cao vai trò cực tăng trưởng đô thị, định vị trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo đa ngành...

Bên cạnh những lợi thế chiến lược mới, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ nhận định, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi Cần Thơ là cực tăng trưởng vẫn đối mặt với những thách thức lớn về nguy cơ tụt hậu.

Từ thực tế này, đại biểu góp ý trong Nghị quyết về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế và chính sách, trong đó có cơ chế phân bổ vốn theo kết quả, nhằm tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho các cực tăng trưởng năng động như Cần Thơ.

Cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy hình thành các trung tâm logistics lớn tại Cần Thơ và đề án cụ thể để hình thành các trung tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với vùng chuyên canh… cũng là đề xuất được ông Tuấn Anh đưa ra.

Phó Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ cũng góp ý cần tập trung để tạo đột phá về hạ tầng giao thông và thủy lợi.

Trong đó, ông nhấn mạnh định hướng tập trung nguồn lực để hoàn thành tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng và các trục kết nối đến các đầu mối vận tải lớn, đẩy nhanh tiến độ xây dựng cảng biển Trần Đề thành cảng cửa ngõ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Tuấn Anh cũng kiến nghị sớm xác định lộ trình đầu tư tuyến đường sắt nối TP HCM với Cần Thơ sau năm 2030, nhằm tăng cường khả năng vận tải khối lượng lớn và giảm chi phí logistics.

Cùng với đó, theo Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, cần sớm đầu tư xây dựng công trình chống ngập úng cho địa phương này, cũng như xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước vùng cửa sông, ven biển để chủ động kiểm soát mặn, trữ ngọt, và bổ sung nước ngọt, triển khai các giải pháp trữ nước trên hệ thống sông, kênh rạch tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Định hướng quan trọng khác, theo ông Tuấn Anh, là cần tập trung phát triển mạnh mẽ hơn nữa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đối với Cần Thơ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo ông, cần sớm sớm đầu tư nâng cấp, phát triển sàn giao dịch công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Cần Thơ để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, tập trung vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu sản phẩm.

“Phát triển đô thị thông minh và TOD gắn với các tuyến giao thông chính, đồng thời xây dựng Cần Thơ trở thành đô thị thông minh”, ông Tuấn Anh nêu.

Với những định hướng quan trọng trong quy hoạch ấy, đại biểu Tuấn Anh tin “chắc chắn Cần Thơ sẽ trở thành động lực tăng trưởng của Đồng bằng sông Cửu Long và là mắt xích quan trọng kết nối Việt Nam với khu vực và thế giới”.

Kết nối vùng với các quốc gia có biên giới với Việt Nam

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia lần này đồng nghĩa với việc định hình lại không gian phát triển, huy động và phân bổ nguồn lực có trọng tâm trọng điểm.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Ảnh: P.Thắng

Việc điều chỉnh này cũng tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng, thâm dụng vốn và lao động sang chiều sâu, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng để bứt phá.

Dự thảo nghị quyết nêu quy hoạch phát triển vùng phải dựa trên 3 trụ cột là 6 vùng kinh tế - xã hội, 5 vùng động lực và các hành lang kinh tế.

Bày tỏ quan điểm nhất trí, ông Hùng đề nghị bổ sung nội dung để bảo đảm thể chế và cơ chế điều phối và liên kết vùng, nhất là việc kết nối, liên kết giữa các vùng, tạo không gian để các địa phương trong vùng và giữa các vùng với nhau có được sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, tránh mâu thuẫn, trùng lắp, phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của vùng.

Cùng với đó, theo đại biểu, cần bổ sung nội dung về tính kết nối của các vùng với các quốc gia có biên giới trên đất liền và trên biển với nước ta, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới theo các hành lang kinh tế đã và đang hình thành.

Như hành lang kinh tế Đông Tây từ Myanmar qua Thái Lan, Lào đến Đà Nẵng; hành lang kinh tế Bắc Nam từ Côn Minh (Trung Quốc) qua Lào, Myanma đến Hà nội, Hải Phòng và Quảng Ninh; hành lang kinh tế phía Nam từ Bangkok (Thái Lan) qua Campuchia đến TP HCM và Tây Nam bộ… theo ông Hùng.

Đại biểu Hùng cũng nhất trí điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 đạt 10%/năm trở lên. Theo đại biểu Hùng, mục tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố là vốn, lao động và đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).

Để tăng trưởng GDP đạt hơn 10%, tốc độ tăng năng suất lao động phải đạt khoảng 9% trở lên và đóng góp TFP khoảng 60%. Song, đề xuất điều chỉnh tại dự thảo nghị quyết 2 chỉ tiêu trên lần lượt là trên 8,5% và 55%. “Như vậy có thể là chưa đủ để đạt mục tiêu tăng trưởng”, ông Hùng nói.

Do vậy, đại biểu đề nghị, cân nhắc để điều chỉnh 2 mục tiêu này ở mức 9% và 60% trở lên, nhất là trong bối cảnh phải tiếp tục duy trì tốc độ tăng GDP khá cao trong 10-15 năm tiếp theo và xuất phát điểm năng suất lao động của Việt Nam khá thấp (chỉ bằng 1/8 của Singapore, 1/4 - 1/5 của Nhật, Hàn Quốc, 1/3 của Malaysia, 1/2 của Thái Lan).