Tự chủ chiến lược về kinh tế - căn cốt để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với phương châm “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển” đã thành công rất tốt đẹp, nổi bật là xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930-2030), nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2045), trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là 2 mục tiêu 100 năm).
Đây là hệ mục tiêu toàn diện, bao gồm tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, song với nội hàm cụ thể, kinh tế là lĩnh vực trước hết, là yếu tố suy đến cùng quy định nội dung, tính chất và kết quả thực hiện mục tiêu phát triển đất nước. Vì vậy, tự chủ chiến lược nói chung, tự chủ chiến lược về kinh tế nói riêng là căn cốt để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới.
1. Từ tự chủ đến tự chủ chiến lược về kinh tế
Tự chủ và tự chủ chiến lược nói chung, tự chủ chiến lược về kinh tế nói riêng là vấn đề xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là hiện thân của tinh thần, khát vọng tự chủ của dân tộc Việt Nam, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” và toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Người luôn theo đuổi, đấu tranh để đạt được khát vọng đó. Vì vậy, trong “Thư cảm ơn” nhân dịp sinh nhật lần thứ 56 của mình, Người viết: “Nhân dịp này, tôi xin hứa với đồng bào rằng từ đây về sau, cũng như từ đây về trước, tôi sẽ ra sức phấn đấu để giữ gìn quyền tự chủ của nước nhà, quyền tự do của dân tộc, quyền dân chủ của đồng bào”(1).
|
Tự chủ chiến lược về kinh tế - Căn cốt để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới. Ảnh minh họa: thuonghieucongluan.com.vn |
Đối với tự chủ về kinh tế, trong bài viết “Thế nào là công nghiệp hóa?” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2136, ra ngày 22-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra âm mưu thâm độc của thực dân Pháp và tình trạng mất tự chủ về kinh tế của Việt Nam khi khẳng định: “Thực dân Pháp chiếm nước ta hơn một nửa thế kỷ. Nhưng số nhà máy mà chúng xây dựng trên đất nước ta thì có thể đếm được trên đầu ngón tay. Công nghiệp không được mở mang, thì nông nghiệp lạc hậu vẫn hoàn lạc hậu. Từ cái kim, sợi chỉ, nhân dân ta đều phải mua của nước ngoài. Trước hết là mua của Pháp! Như vậy thì còn nói gì đến độc lập, tự chủ!”. Một sự trùng hợp lịch sử, đúng ngày này 66 năm sau, ngày 22-1-2026, trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các Văn kiện trình Đại hội XIV do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại Đại hội đã nhấn mạnh: “Đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn”. Tự chủ về kinh tế được Đảng ta xác định trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III: “Tư tưởng cơ bản phải thấu suốt trong lĩnh vực đối ngoại là: Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và chủ quyền dân tộc, tiến nhanh đến độc lập, tự chủ về kinh tế, tích cực đoàn kết các lực lượng xã hội chủ nghĩa và độc lập dân tộc”. Như vậy, trên cơ sở nền tảng tự chủ về chính trị, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm thúc đẩy quá trình tự chủ về kinh tế, coi đây là vấn đề căn cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bước sang kỷ nguyên phát triển mới, đánh dấu bằng Đại hội XIV của Đảng, tự chủ được nâng lên thành tự chủ chiến lược với nội hàm toàn diện, bao hàm tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Đây là bước phát triển đột phá trong tư duy lý luận của Đảng ta về tự chủ. Vì vậy, luận giải làm rõ tự chủ chiến lược về kinh tế vừa là vấn đề có tính cấp bách trước mắt, vừa là vấn đề chiến lược lâu dài trong kỷ nguyên mới.
Tự chủ chiến lược về kinh tế là khả năng của một quốc gia chủ động hoạch định, hiện thực hóa đường lối, chính sách phát triển kinh tế và ứng phó thành công với những biến động về kinh tế cùng các lĩnh vực khác mà không bị lệ thuộc, chi phối và áp đặt từ bên ngoài. Theo đó, nội hàm của quan niệm được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau:
Về mục tiêu: Tự chủ chiến lược về kinh tế nhằm đạt “mục tiêu kép” vừa hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế không chỉ giai đoạn 5 năm, 10 năm, 20 năm mà còn hơn thế nữa là những năm tiếp theo, vừa gia tăng khả năng chống chọi, phục hồi trước những cú sốc, biến động bất lợi về kinh tế cũng như tác động tiêu cực của tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... để phát triển nhanh và bền vững trong bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào.
Về vị trí, vai trò: Tự chủ chiến lược về kinh tế luôn giữ vị trí, vai trò trung tâm, do chính lĩnh vực kinh tế quy định và đặt trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Vì vậy, Đảng ta khẳng định: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(2). Hơn nữa, tự chủ chiến lược về kinh tế trực tiếp góp phần phòng, chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa và nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Từ đó khẳng định, tự chủ chiến lược về kinh tế là căn cốt để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới.
Về nội dung: Tự chủ chiến lược về kinh tế rất toàn diện, bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Một là, tự chủ chiến lược về đường lối phát triển kinh tế. Đây là nội dung cốt lõi, không chỉ quyết định đến mục tiêu tự chủ chiến lược về kinh tế, quyết định đến định hướng phát triển của nền kinh tế, bản chất của nền kinh tế mà còn quyết định đến xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đó là: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về vấn đề này, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Nhất quán xây dựng và hoàn thiện 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa-Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa-Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Các trụ cột nếu được xây dựng và hoàn thiện sẽ trực tiếp giải quyết một trong 10 mối quan hệ lớn đó là, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị được Đảng ta chỉ ra ở các kỳ đại hội trước.
Hai là, tự chủ chiến lược về thể chế phát triển kinh tế. Đó là kiên trì xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh bảo đảm thuận lợi, công khai, minh bạch, ổn định, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển, nhất là nguồn lực nội sinh để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, nhanh và bền vững.
Ba là, tự chủ chiến lược về chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng ta nhất quán: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”(3). Để hoàn thiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhất là trong thời điểm đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, để giữ vững tự chủ chiến lược về chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nói riêng, của nền kinh tế nói chung, Đảng ta đã ban hành hai nghị quyết chiến lược: Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Hai nghị quyết nhưng cùng một mục tiêu “tăng trưởng hai con số” để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm.
Bốn là, tự chủ chiến lược về hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu như trước đây, tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế là một bộ phận cấu thành đường lối đối ngoại của Đảng như trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, thì hiện nay đã có tính độc lập tương đối, là một nội dung quan trọng của tự chủ chiến lược về kinh tế. Đó là bước chuyển trạng thái mạnh mẽ trong hội nhập kinh tế quốc tế từ “mở rộng quan hệ” sang “nâng cao chất lượng, đi vào chiều sâu”, từ “tham gia” sang “dẫn dắt, định hình” với tinh thần chủ động, tích cực; đồng thời phải không ngừng thích ứng chủ động, linh hoạt, hiệu quả với những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định của tình hình quốc tế, khu vực, góp phần giữ chủ động chiến lược trong quan hệ quốc tế, đưa hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập về kinh tế nói riêng thực sự trở thành một trụ cột trong phát triển đất nước.
2. Định hướng giải pháp giữ vững tự chủ chiến lược về kinh tế trong kỷ nguyên mới
Bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực những năm gần đây và dự báo thời gian tới có cả thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn như Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV đã chỉ rõ tác động cả tích cực và tiêu cực đến hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới. Trong đó, toàn cầu hóa và liên kết kinh tế vẫn tiến triển, dù đối mặt với nhiều khó khăn mới, thách thức lớn; chủ nghĩa bảo hộ, chính sách thuế quan áp đặt, nguy cơ chiến tranh thương mại đi đôi với xu hướng điều chỉnh chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu và xu thế tự chủ chiến lược, đua tranh về kinh tế, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực... ngày càng được các nước quan tâm, thúc đẩy. Trong khi đó, “trong 5 năm tới, đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước. Phát triển kinh tế-xã hội chưa bền vững. 4 nguy cơ mà Đảng chỉ ra đã từng bước được khắc phục, song có mặt còn diễn biến phức tạp. Nguy cơ bao trùm là nguy cơ tụt hậu, nhất là về công nghệ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Tư duy phát triển chưa theo kịp các xu thế phát triển của thế giới, phản ứng chính sách chưa kịp thời, chậm điều chỉnh và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới”(4). Vì vậy, trên cơ sở quán triệt và thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV, trực tiếp là Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cần thực hiện tốt những định hướng giải pháp giữ vững và tăng cường tự chủ chiến lược về kinh tế để bảo đảm kinh tế Việt Nam cất cánh nhằm hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới như sau:
Thứ nhất, phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế và tự chủ chiến lược về kinh tế.
Đây vừa là vấn đề có tính nguyên tắc, cơ sở chính trị đặc biệt, vừa là giải pháp quan trọng hàng đầu và suy đến cùng quyết định đến mọi thắng lợi của sự nghiệp phát triển kinh tế và tự chủ chiến lược nói chung, tự chủ chiến lược về kinh tế nói riêng. Vì vậy, Đảng ta nhấn mạnh: “Hiện nay, lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của Đảng”(5). Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo nhiệm vụ đó, Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực và phương thức lãnh đạo kinh tế. Trong đó, tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, kiên định lãnh đạo phát triển kinh tế, tự chủ chiến lược về kinh tế bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và thông qua hệ thống các tổ chức đảng cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; đồng thời, Đảng phát huy tối đa vai trò quản lý của Nhà nước, không bao biện, làm thay Nhà nước. Bước sang kỷ nguyên mới, trước cơ hội lớn và thách thức lớn đối với đất nước, Đảng ta phải vươn lên cả về trí tuệ, năng lực và phẩm chất, phải kịp thời tự đổi mới và chỉnh đốn, trở thành một đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, làm đúng và tốt chức năng của đảng cầm quyền, thành thạo lãnh đạo kinh tế; đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng, nhất là cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ-những người “thật sự tiêu biểu về phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó” để đưa đất nước phát triển, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, kiên định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định và kiên trì phấn đấu. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội-yếu tố nội sinh của sức mạnh tổng thể quốc gia-điều kiện tiên quyết hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, huy động và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực để kinh tế bứt tốc tăng trưởng nhanh và bền vững.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian dài (20 năm) là chưa có trong tiền lệ cả trên thế giới và Việt Nam. Vì vậy, trước mắt cần khẩn trương thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8-1-2026 của Chính phủ đề ra, chủ động nắm chắc diễn biến tình hình quốc tế và trong nước, nâng cao năng lực phân tích, dự báo, phản ứng chính sách linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Quán triệt sâu sắc chủ trương “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”(6). Từ đó, tập trung đổi mới tư duy chiến lược trong xây dựng các nền tảng phát triển kinh tế mới, trọng tâm là hoàn thiện thể chế, nâng chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Chủ động nhận diện và khơi thông, hóa giải những “điểm nghẽn”, “nút thắt” về thể chế, nhất là về pháp luật, huy động và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nội lực, nguồn lực con người Việt Nam. Trong đó, thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống cả đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu; đồng thời khai thác, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới bằng đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện, cụ thể hóa và quyết liệt thực hiện các đột phá chiến lược.
Trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện các đột phá chiến lược xác định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Đại hội XIV của Đảng khẳng định các đột phá đó có giá trị chỉ đạo thực hiện cho cả giai đoạn 2021-2030, song để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong nhiệm kỳ 2026-2030 cần tập trung vào những nội dung then chốt, trong đó khâu đột phá đầu tiên được Đảng ta xác định là “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết là các cơ quan chiến lược, đội ngũ cán bộ cần nghiên cứu toàn diện, cụ thể hóa và hiện thực hóa các đột phá chiến lược đó với quyết tâm chính trị cao. Theo đó, quyết liệt trong nghiên cứu, hành động, "phải biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể; phải vượt qua chính mình, đạt toàn bộ các mục tiêu đã đề ra” như thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra và coi đây là mệnh lệnh hành động, toàn hệ thống chính trị phải tăng tốc, bứt phá, hoàn thành các mục tiêu đề ra ngay từ tháng đầu, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng với quyết tâm chính trị ở mức cao nhất, nỗ lực ở mức lớn nhất, hành động phải quyết liệt nhất. Đó là mệnh lệnh xuất phát từ ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc.
Thứ năm, không ngừng phát huy sức mạnh và “thế trận lòng dân” trong giữ vững tự chủ chiến lược về kinh tế trong kỷ nguyên mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(7). Cần quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng kinh nghiệm phổ biến này để phát huy sức mạnh và “thế trận lòng dân” trong phát triển kinh tế, trong giữ vững tự chủ chiến lược về kinh tế. Bảo đảm mọi người dân đều được hưởng thành quả phát triển kinh tế, 2 mục tiêu 100 năm trong kỷ nguyên mới đều vì nhân dân. Không ngừng khoan thư sức dân và thường xuyên “quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, giữ vững và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị”, như phát biểu Bế mạc Đại hội lần thứ XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 270.
(2) (4) (6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, ngày 14-10-2025, tr. 19; tr. 19, tr.21.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 910-911.
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 57, sđd, 2015, tr.167.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 335.





In bài viết