Ngành công nghiệp giữ vị thế dẫn dắt tăng trưởng
Năm 2025, sản xuất công nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, với mức tăng cao nhất trong 7 năm, đóng góp quyết định vào tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, để tiếp tục giữ vững vị thế dẫn dắt trong năm 2026 và giai đoạn tới, ngành Công nghiệp Việt Nam cần chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên nội lực, công nghệ và chuỗi giá trị bền vững.

Kiểm tra thành phẩm thép xây dựng tại Tập đoàn Hòa Phát. Ảnh: Nguyễn Vĩnh
Mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2019
Tháng 9-2025, lò cao số 2 thuộc dự án Hòa Phát Dung Quất 2 (Tập đoàn Hòa Phát) chính thức vận hành, đánh dấu cột mốc hoàn thiện toàn bộ dự án đúng tiến độ. Với sự góp sức của Dung Quất 2, năng lực sản xuất của Hòa Phát dự kiến đạt 16 triệu tấn thép/năm vào cuối năm 2026, đưa doanh nghiệp ghi danh vào nhóm 30 nhà sản xuất thép lớn nhất toàn cầu. Riêng năm 2025, sản lượng thép thô của tập đoàn lần đầu vượt ngưỡng 10 triệu tấn, tăng 25% so với năm trước.
Đà tăng trưởng còn thể hiện qua những con số tiêu thụ ấn tượng. Riêng tháng 12-2025, doanh số thép xây dựng và thép chất lượng cao của Hòa Phát tăng vọt 52% so với cùng kỳ. Đặc biệt, việc cung ứng thép cho các phân khúc kỹ thuật khó như lốp ô tô, cáp dự ứng lực và cơ khí chế tạo cho thấy bước chuyển mình sang các sản phẩm giá trị gia tăng cao. Nhu cầu nội địa bùng nổ nhờ các dự án đầu tư công trọng điểm, cùng sự hồi sinh của thị trường dân dụng đã giúp Hòa Phát giữ vững thị phần số 1 Việt Nam (chiếm hơn 36%), qua đó đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của ngành Công nghiệp.
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, chỉ số sản xuất ngành Công nghiệp năm 2025 ước tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất trong 7 năm qua (kể từ năm 2019 đến nay). Đáng chú ý trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7%; ngành khai khoáng tăng 0,5%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao. Cụ thể như sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất trang phục tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%... Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực năm 2025 tăng cao so với năm trước: Ô tô tăng 39,1%; thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản, quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%...
Kết quả này vượt xa giai đoạn 2019-2024 và tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, dẫn dắt của khu vực công nghiệp trong tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Tiếp tục tháo gỡ nhiều điểm nghẽn

Dây chuyền sản xuất hiện đại tại Tổng công ty May 10. Ảnh: Hiền Thanh
Dù đạt được kết quả ấn tượng, nhưng sản xuất công nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức mang tính căn cơ. Nổi bật là khu vực đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 60% giá trị sản lượng công nghiệp và gần như thống lĩnh các lĩnh vực điện tử, máy tính, điện thoại, những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.
Theo chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Lê Quốc Phương, giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp Việt Nam vẫn ở mức thấp do chủ yếu tham gia các khâu gia công, lắp ráp, chưa làm chủ được các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ lõi. Công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm khiến doanh nghiệp nội địa khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, trong khi áp lực về môi trường và tiêu chuẩn phát triển bền vững ngày càng gia tăng.
Để đạt mục tiêu chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trên 10% trong năm 2026 và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo, ngành Công nghiệp cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Trong đó, phát triển các ngành công nghiệp nền tảng được xem là yếu tố then chốt. “Chúng ta cần ưu tiên một số lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, luyện kim, cơ khí chế tạo và công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, qua đó tạo nền móng cho toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp”, Tiến sĩ Lê Quốc Phương nói.
Ở góc độ chuỗi giá trị, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế quốc dân) nhấn mạnh, thách thức lớn nhất của ngành Công nghiệp Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở chi phí hay thị trường, mà còn là cấu trúc chuỗi cung ứng. Công nghiệp hỗ trợ chưa đủ mạnh khiến doanh nghiệp khó đáp ứng các yêu cầu về nội địa hóa, từ đó chưa tận dụng hiệu quả ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do.
Để giữ vững vai trò dẫn dắt, ngành Công nghiệp cần được tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về thể chế, vốn, hạ tầng và liên kết ngành. Việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng ổn định, minh bạch; khuyến khích đầu tư vào chế biến sâu; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ và chuỗi giá trị và thị trường nội địa được xem là những giải pháp trọng tâm. Cùng với đó, việc đẩy nhanh đầu tư hạ tầng giao thông, logistics và năng lượng sẽ giúp giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Với nền tảng tăng trưởng vững chắc của năm 2025, cùng định hướng phát triển đúng đắn và giải pháp đồng bộ, ngành Công nghiệp được kỳ vọng sẽ tiếp tục là động lực chủ lực của nền kinh tế trong năm 2026 và những năm tiếp theo, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tự chủ hơn của Việt Nam.




In bài viết