• :
  • :

Từ mô hình điểm đến cơ chế vận hành bền vững chương trình sức khỏe học đường

Chuyển hóa kết quả thực tiễn thành chính sách, tổ chức lại cách huy động nguồn lực xã hội để triển khai hiệu quả chương trình sức khỏe học đường.

Trẻ mầm non Ban Mai School.

Trẻ mầm non Ban Mai School.

Để sức khỏe học đường tạo ra thay đổi lâu dài, kinh nghiệm từ các mô hình thí điểm cho thấy cần chuyển hóa kết quả thực tiễn thành chính sách, đồng thời tổ chức lại cách huy động nguồn lực xã hội theo hướng tạo ra năng lực, thay vì chỉ hỗ trợ ngắn hạn.

Để mô hình không dừng ở thí điểm

Qua nhiều năm tham gia xây dựng chính sách và triển khai các chương trình dinh dưỡng học đường, PGS.TS Bùi Thị Nhung, Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho rằng cơ chế, chính sách là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm tính bền vững của một mô hình.

Theo PGS.TS Bùi Thị Nhung, kinh nghiệm từ các mô hình điểm Đề án 41 cho thấy, khi nhà trường được cung cấp đầy đủ điều kiện cần thiết, từ cơ sở vật chất, nhân lực, kiến thức chuyên môn đến công cụ xây dựng thực đơn, mức thu bữa ăn bán trú đủ để có được bữa ăn cân bằng dinh dưỡng và truyền thông cho phụ huynh, việc tổ chức bữa ăn học đường hoàn toàn có thể được triển khai bài bản, khoa học, khả thi.

Một kinh nghiệm đáng chú ý được bà dẫn ra từ giáo dục mầm non. Từ năm 2007, chương trình giáo dục mầm non đã xác định nhiệm vụ của nhà trường bao gồm cả nuôi dưỡng và giáo dục. Vì vậy, việc tính toán thực đơn trở thành yêu cầu trong tổ chức bữa ăn. Khi các trường có công cụ tính toán thực đơn trên phần mềm đáp ứng năng lượng, cân bằng các chất sinh năng lượng cho từng lứa tuổi, việc tổ chức bữa ăn có cơ sở chuyên môn rõ ràng hơn.

Từ thực tế đó, PGS.TS Bùi Thị Nhung cho rằng thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện những quy định có tính bắt buộc, từ chính sách, nhân lực, kinh phí bữa ăn đến các yêu cầu chuyên môn, qua đó tạo nền tảng để mô hình có thể vận hành ổn định, không phụ thuộc vào từng dự án riêng lẻ.

Đây cũng là hướng nhìn được củng cố từ kinh nghiệm quốc tế. Theo PGS.TS Bùi Thị Nhung, Nhật Bản đã luật hóa “Bữa ăn học đường” và “Giáo dục dinh dưỡng” bằng luật dinh dưỡng học đường năm 1954 và luật giáo dục dinh dưỡng năm 2005, từ những thời điểm mà kinh tế Nhật còn rất nhiều khó khăn. Từ kinh nghiệm này, Việt Nam có thể nghiên cứu hướng xây dựng Luật Bữa ăn học đường, qua đó tạo cơ sở pháp lý để các chính sách được thực thi thống nhất và từng bước cải thiện tình trạng dinh dưỡng học sinh.

Nhìn từ thực tiễn triển khai mô hình điểm Đề án 41 năm 2020-2021, điều quan trọng không chỉ là chứng minh một giải pháp có thể thực hiện được, mà còn phải xác định được cách thức để giải pháp ấy có thể tiếp tục vận hành sau giai đoạn thí điểm một cách bền vững.

Bà Nguyễn Quỳnh Vân, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH cho biết, mô hình điểm bữa ăn dinh dưỡng học đường kết hợp tăng cường hoạt động thể lực là một minh chứng tiêu biểu cho thấy cách doanh nghiệp có thể đồng hành cùng cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà trường và gia đình biến một chủ trương về dinh dưỡng học đường thành một mô hình cụ thể, có thể đo lường và nhân rộng.

Mô hình điểm được thực hiện với sự phối hợp của Bộ GD&ĐT, Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế), Tập đoàn TH cùng các chuyên gia đầu ngành trong nước và nước ngoài, triển khai tại 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái, trong năm học 2020-2021 đã được đánh giá là giải pháp toàn diện, làm thay đổi tích cực nhận thức, thói quen ăn uống, vận động thể lực của học sinh. Theo bà Vân, mô hình được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, đồng thời điều chỉnh theo điều kiện kinh tế của từng địa phương.

Điểm quan trọng của quá trình này là mô hình không được xem như một hoạt động thí điểm đơn thuần. Trong quá trình triển khai, các bên cùng khảo sát thực tế, kiểm tra, đánh giá, thu thập phản hồi và điều chỉnh cách làm cho phù hợp.

Từ đó cho thấy, giá trị của chương trình thí điểm không chỉ nhằm kiểm chứng một giải pháp từ lý thuyết vào thực tiễn, mà còn ở khả năng xác định mô hình phù hợp, hiệu quả và có khả năng nhân rộng, đồng thời tạo lập bằng chứng thực tế để hoàn thiện chính sách.

Quá trình từ thử nghiệm đến nhân rộng cần được nghiên cứu khoa học, bài bản, được tổ chức thành một chu trình liên tục, trong đó kết quả thực tế trở thành cơ sở để điều chỉnh phương pháp và hoàn thiện các quy định liên quan.

2.jpg

Tính toán thực đơn trở thành yêu cầu trong tổ chức bữa ăn (Ảnh: wellspring.edu.vn).

Xã hội hóa từ nguồn lực thành năng lực

Cùng với yêu cầu hoàn thiện chính sách, một vấn đề khác được đặt ra là cách thức huy động nguồn lực xã hội cho chương trình sức khỏe học đường.

Theo bà Nguyễn Quỳnh Vân, khi nói đến sự đồng hành của doanh nghiệp, cách hiểu phổ biến thường là đóng góp kinh phí hoặc sản phẩm. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở hai hình thức này thì chưa đủ để tạo ra sự đồng hành xuyên suốt chương trình.

Từ kinh nghiệm thực tế, doanh nghiệp có thể tham gia bằng nhiều nguồn lực khác, như công nghệ, mô hình, giải pháp và đội ngũ chuyên gia. Đây là cách tiếp cận hướng tới việc tạo ra năng lực thực hiện, thay vì chỉ cung cấp một khoản hỗ trợ trong một khoảng thời gian nhất định.

Mô hình “Bữa ăn dinh dưỡng học đường” mà Tập đoàn TH tiếp tục tham gia triển khai tại Vĩnh Long, Đắk Lắk và Tuyên Quang trong năm học 2026-2027 cho thấy rõ cách tiếp cận này.

Bà Vân cho biết, doanh nghiệp đã đồng hành cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Sở GD&ĐT các tỉnh, chính quyền địa phương và các nhà trường để khảo sát điều kiện thực tế của địa phương. Sau khảo sát, các chuyên gia của Mô hình điểm giai đoạn 2020-2021 tổ chức tập huấn, chia sẻ kiến thức tại nhà trường.

Cùng với việc hỗ trợ kinh phí, quá trình đánh giá, hướng dẫn này của doanh nghiệp nhằm giúp các bên liên quan: Ban Giám hiệu, nhân viên bếp, thầy cô giáo, phụ huynh và các em học sinh hiểu thế nào là một bữa ăn đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, vì sao dinh dưỡng, vận động và những thói quen tốt của học sinh cần được đầu tư, duy trì cả ở trường và tại gia đình...

Theo bà Nguyễn Quỳnh Vân, cách triển khai này thể hiện rất rõ bản chất đúng đắn của việc xã hội hóa: Không chỉ là huy động thêm kinh phí, mà là huy động tổng thể nguồn lực của xã hội.

Ở góc độ hợp tác quốc tế, bà Lê Anh Lan, Chuyên gia Giáo dục, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF Việt Nam, cũng cho biết phương thức hỗ trợ của UNICEF tập trung chủ yếu vào nâng cao năng lực, thực hiện nghiên cứu, khảo sát để củng cố bằng chứng, đồng thời triển khai các hoạt động truyền thông và vận động chính sách.

Đáng chú ý, UNICEF thực hiện song song ở cấp trung ương và địa phương. Ở trung ương, các hoạt động dựa trên nghiên cứu, bằng chứng để cùng xây dựng khung và tài liệu. Tại địa phương, các nội dung được triển khai thực tế, sau đó đánh giá lại với trung ương để nhận diện những điểm nghẽn trong thực hiện, xem xét nhu cầu điều chỉnh chính sách hoặc cơ chế giám sát, đánh giá.

Cách làm này tạo ra sự kết nối hai chiều giữa chính sách và thực tiễn: chính sách định hướng cho địa phương triển khai, trong khi kết quả thực tế và bằng chứng từ địa phương lại trở thành cơ sở để hoàn thiện chính sách.

Bà Nguyễn Quỳnh Vân cũng nhấn mạnh, trong quá trình triển khai các chương trình dinh dưỡng học đường, việc kiểm tra, đánh giá của các cơ quan chuyên môn, khảo sát thực tế và thu thập phản hồi của học sinh là những khâu cần thiết để mô hình được điều chỉnh phù hợp.

Như vậy, xã hội hóa trong sức khỏe học đường không nên được nhìn đơn thuần là bài toán huy động thêm tiền hay sản phẩm. Đó là quá trình huy động tổng thể nguồn lực của xã hội, bao gồm tri thức, công nghệ, chuyên môn, kinh nghiệm, nghiên cứu, dữ liệu và năng lực tổ chức thực hiện.

Khi các nguồn lực này được kết nối trong một cơ chế chung, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, các cơ quan chuyên môn bảo đảm nền tảng khoa học, địa phương tổ chức thực hiện, còn doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia bằng thế mạnh của mình, những mô hình hiệu quả sẽ có cơ hội được duy trì và mở rộng.

Từ đó, bài toán của Chương trình 973 không chỉ là làm thêm những mô hình mới, mà quan trọng hơn là biến những gì đã được kiểm chứng trong thực tiễn thành quy định, năng lực và cách làm có thể tiếp tục vận hành.

Đó là bước chuyển từ một mô hình thí điểm sang một cơ chế bền vững; từ xã hội hóa nguồn lực sang xã hội hóa năng lực; và từ những sáng kiến riêng lẻ sang một hệ thống sức khỏe học đường có khả năng vận hành lâu dài.