Thí sinh dự thi khối ngành kỹ thuật giảm: Cần thay đổi cách tiếp cận ngành học
Tỷ lệ sinh viên ở Việt Nam theo học ngành liên quan đến STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) trong những năm vừa qua có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao về phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật trong dài hạn. Bài toán đặt ra là làm thế nào để vừa bảo đảm quyền lựa chọn của học sinh, vừa định hướng được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước.

Hướng dẫn sinh viên Khoa Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử (Trường Đại học Đại Nam) thực hành tại phòng thí nghiệm. Ảnh: Dainam.edu.vn
Học sinh chưa mặn mà với các môn khoa học tự nhiên
Dữ liệu đăng ký thi tốt nghiệp trung học phổ thông giai đoạn 2020-2025 cho thấy sự cách biệt rõ rệt giữa khối môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Năm 2025, thời điểm những học sinh đầu tiên thi theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, sự chênh lệch này đã bộc lộ rõ nét hơn. Theo số liệu thống kê, môn lịch sử và địa lý vươn lên dẫn đầu với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 42,4% và 41,8%; trong khi các môn khoa học tự nhiên giảm mạnh với vật lý chỉ còn 30,4%, hóa học 21,2% và sinh học xuống mức thấp kỷ lục 6,2%.
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 cũng đang ghi nhận một xu hướng tương tự khi có nhiều học sinh không còn mặn mà với các môn khoa học tự nhiên.
Em Trần Quốc Hùng, học sinh lớp 12, Trường Trung học phổ thông Việt Nam - Ba Lan (phường Hoàng Liệt, Hà Nội) thừa nhận, dù muốn theo học ngành công nghệ thông tin (công nghệ và tin học) nhưng em vẫn chuyển sang thi tổ hợp khoa học xã hội bởi vì kiến thức các môn tự nhiên quá nặng. Điều này giúp em có một bảng điểm tốt nghiệp trung học phổ thông đẹp hơn.
Theo thống kê từ Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo), hiện nay có khoảng 60-65% học sinh trung học phổ thông vẫn lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội để dự thi đại học. Xu hướng ngày càng có nhiều học sinh chuyển sang lựa chọn các môn khoa học xã hội bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Thầy Hà Văn Thắng, giáo viên dạy toán tại Trường Trung học phổ thông Ngô Sĩ Liên (tỉnh Bắc Ninh) cho rằng, sự thay đổi trong cách tổ chức kỳ thi từ năm 2025 là một yếu tố quan trọng. Trong khi toán là môn thi bắt buộc, để giảm tải áp lực, học sinh thường chọn thêm môn tự nhiên để ghép thành tổ hợp A01 (toán, vật lý, tiếng Anh). Điều này dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng số học sinh chọn tổ hợp truyền thống A00 (toán, vật lý, hóa học). Rào cản lớn nhất khiến học sinh không lựa chọn tổ hợp khoa học tự nhiên ngoài năng lực còn ở định kiến và sự thiếu hụt thông tin. “Do công tác hướng nghiệp chưa chạm tới thực tế, nhiều học sinh vẫn mặc định ngành kỹ thuật là hình ảnh “lấm lem dầu mỡ”, “phơi sương nắng ngoài công trường”. Trong khi đó, các ngành kinh tế, tài chính lại được truyền thông tô vẽ bằng hình ảnh sang trọng trong văn phòng máy lạnh. Điều này tạo tâm lý e dè cho những học sinh thích an nhàn”, thầy Hà Văn Thắng phân tích.
Đồng quan điểm, Giám đốc Công ty TNHH Cung ứng nguồn nhân lực Ocean Connect Đồng Thị Phương Anh cho rằng, nguyên nhân ít học sinh chọn tổ hợp khoa học tự nhiên một phần do tâm lý “thích làm thầy hơn làm thợ” vẫn còn nặng nề. Nhiều em e ngại công việc kỹ thuật vất vả, ngại môi trường nhà máy. Thậm chí, không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp ngành kỹ thuật cũng nảy sinh tâm lý “ngại khó” rồi rẽ hướng sang nghề khác, dù cơ hội thăng tiến rất rộng mở.
Cần sớm khơi dậy niềm yêu thích khoa học
Hiện nay, mỗi năm, thị trường lao động thiếu hụt khoảng 150.000- 200.000 nhân lực khoa học, công nghệ. Riêng nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo (AI) mới chỉ đáp ứng được xấp xỉ 10% nhu cầu thực tế. Sự thiếu hụt này đã trở thành rào cản trực tiếp đối với sự phát triển khoa học, kỹ thuật của nước ta trong dài hạn.
Theo đánh giá, không thể giải quyết vấn đề này bằng các biện pháp hành chính mang tính ép buộc mà cần khơi dậy niềm yêu thích khoa học, công nghệ với học sinh ngay từ bậc phổ thông. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong cách dạy và học, từ truyền thụ kiến thức sang trải nghiệm, từ lý thuyết sang thực hành.
Nhiều chuyên gia cho rằng, cần phải thay đổi cách tiếp cận từ sớm, phát hiện sớm và khơi gợi hứng thú, giúp học sinh trải nghiệm các mô hình, hình thành kỹ năng STEM và làm quen với nghiên cứu khoa học, công nghệ thông qua các dự án ngay từ bậc phổ thông. Các trường đại học cần có chiến lược tiếp cận học sinh từ lớp 10, thời điểm các em bắt đầu chọn môn học theo chương trình mới. Bên cạnh đó, các nhà trường cần thay đổi phương pháp hướng nghiệp từ lý thuyết sang thực hành. Có thể cho học sinh tham gia các tour trải nghiệm tại nhà máy công nghệ cao, hoặc sử dụng công nghệ thực tế ảo để các em thấu hiểu công việc của một kỹ sư hiện đại. Khi có thiện cảm và hình thành sự yêu thích tự thân, các em sẽ đủ động lực vượt qua khó khăn học thuật. Ngoài ra, đối với các bậc phụ huynh, thay vì áp đặt con em mình vào những ngành “hot” ảo trên truyền thông, cha mẹ cần thấu hiểu năng lực, sở trường, đam mê của con, đồng thời cập nhật xu thế dịch chuyển của nền kinh tế toàn cầu để định hướng con có lựa chọn phù hợp và bền vững.
Trong bối cảnh nhu cầu nhân lực trong các ngành kỹ thuật, công nghệ, khoa học ngày càng tăng, nếu xu hướng “quay lưng” với khoa học tự nhiên tiếp diễn, nguồn cung nhân lực cho các lĩnh vực này có thể suy giảm nghiêm trọng trong những năm tới. Hệ lụy không chỉ dừng lại ở sự mất cân đối của thị trường lao động mà còn ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt trong các ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao.




In bài viết