• :
  • :

Người bệnh trăn trở trước câu hỏi: 'Bác sĩ học ở đâu?' khi 50% đào tạo thuộc khối tư thục

Hiện cả nước có 66 cơ sở đào tạo nhân lực y tế, trong đó khoảng 34 trường đào tạo bác sĩ y khoa, mỗi năm bổ sung khoảng 12.000 bác sĩ.

Nếu như trước năm 2011, đào tạo bác sĩ gần như là “lãnh địa” của các trường công lập đầu ngành, thì nay cục diện đã thay đổi rõ rệt.

Điều này cho thấy quy mô đào tạo bác sĩ tại Việt Nam đang tăng tốc mạnh mẽ với khối tư thục chiếm gần một nửa hệ thống. Nhưng đi cùng với sự mở rộng ấy là nỗi lo về chất lượng, khi “đầu vào” phân tầng, còn “đầu ra” chưa có cơ chế kiểm soát thống nhất.

Khối tư thục đã vươn lên chiếm gần 50% số cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa. Không chỉ dừng ở đó, các trường đa ngành, thậm chí có sự hậu thuẫn của các tập đoàn lớn, cũng ồ ạt tham gia, hình thành một “thị trường đào tạo bác sĩ” sôi động chưa từng có.

img_0880.jpg

Dữ liệu tuyển sinh năm 2025 cho thấy bức tranh điểm chuẩn khối ngành sức khỏe đang phân hóa mạnh, đặc biệt ở ngành Y đa khoa – nơi đòi hỏi đầu vào khắt khe bậc nhất hệ thống giáo dục đại học.

Sự mở rộng này giúp tăng cơ hội học tập, giảm áp lực cạnh tranh, nhưng đồng thời đặt ra một câu hỏi lớn: chất lượng có theo kịp số lượng?

Dữ liệu tuyển sinh cho thấy khoảng cách đáng kể giữa các cơ sở đào tạo. Trong khi các trường công lập đầu ngành duy trì điểm chuẩn từ 25–28 điểm, thì nhiều trường tư thục và đa ngành có mức điểm thấp hơn rõ rệt.

Sự phân tầng đầu vào kéo theo nguy cơ chênh lệch năng lực đầu ra, điều đặc biệt nhạy cảm trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến tính mạng con người.

Ở góc độ pháp lý, đào tạo bác sĩ vốn đã bị “ràng buộc” bởi hàng loạt tiêu chuẩn khắt khe: Từ đội ngũ giảng viên có chứng chỉ hành nghề, hệ thống phòng thí nghiệm, đến cơ sở thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, khi quy mô tăng nhanh, những “điểm nghẽn” về giảng viên, bệnh viện thực hành và kiểm soát chất lượng bắt đầu bộc lộ.

Bước ngoặt sẽ đến từ ngày 1/1/2027, khi mọi bác sĩ tốt nghiệp bắt buộc phải vượt qua kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề do Hội đồng Y khoa quốc gia tổ chức mới được cấp phép hành nghề. Đây được xem là “cánh cổng pháp lý” cuối cùng – nơi mọi tấm bằng phải được kiểm chứng bằng năng lực thực.

Giới chuyên môn nhận định, kỳ thi này sẽ là “lưới lọc” mạnh, buộc các cơ sở đào tạo phải nâng chuẩn, nếu không muốn sinh viên của mình bị loại ngay trước ngưỡng cửa hành nghề.

Song song đó, định hướng siết chặt đào tạo cũng đang được đặt ra, với quan điểm: Ngành đặc thù như y khoa không thể là “sân chơi mở” cho mọi loại hình đào tạo. Việc tiến tới chỉ cho phép các trường chuyên biệt đào tạo bác sĩ được xem là bước đi nhằm bảo vệ chất lượng nguồn nhân lực y tế.

Trong bối cảnh Việt Nam cần gia tăng số lượng bác sĩ để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, bài toán đặt ra không còn là đào tạo bao nhiêu, mà là đào tạo như thế nào.

Khi “cửa vào” được mở rộng nhưng “cửa ra” sắp bị siết chặt bằng một kỳ thi quốc gia, hệ thống đào tạo bác sĩ đang đứng trước một cuộc sàng lọc thực sự – nơi chỉ năng lực thực chất mới có thể đi tiếp.

Nhìn tổng thể, dữ liệu điểm chuẩn cho thấy một thực tế rõ ràng: Khối công lập giữ “đỉnh” với mức điểm rất cao, khối tư thục mở rộng quy mô nhưng điểm đầu vào thấp hơn, sự phân tầng giữa các nhóm trường ngày càng rõ rệt.

Trong bối cảnh mỗi năm có khoảng 12.000 bác sĩ tốt nghiệp, sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một “chuẩn đầu ra” thống nhất.

Theo quy hoạch mạng lưới y tế quốc gia, Việt Nam đặt mục tiêu đạt 15 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2025 và tiến tới 35 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2050. Tuy nhiên, số lượng không còn là vấn đề duy nhất.

Khi điểm đầu vào đã phân hóa mạnh, bài toán cốt lõi nằm ở chất lượng đầu ra – nơi kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề từ năm 2027 được kỳ vọng sẽ trở thành “bộ lọc” cuối cùng của toàn hệ thống.

Điểm chuẩn ngành Y đa khoa (2025)

STTTrườngLoại hìnhĐiểm chuẩn
1Học viện Quân yCông lập30.00
2Trường Đại học Y Hà NộiCông lập28.13
3ĐH Y Dược - ĐHQG Hà NộiCông lập27.43
4ĐH Y Dược TP.HCMCông lập27.34
5ĐH Y Dược - ĐH Thái NguyênCông lập25.85
6ĐH Khoa học Sức khỏe - ĐHQG TP.HCMCông lập25.60
7ĐH Y khoa Phạm Ngọc ThạchCông lập25.55
8ĐH Y Dược Hải PhòngCông lập25.33
9ĐH Y Dược - ĐH HuếCông lập25.17
10ĐH Y Dược Thái BìnhCông lập24.60
11Học viện Y Dược học cổ truyền VNCông lập24.25
12ĐH Y Dược Cần ThơCông lập23.88
13ĐH Kỹ thuật Y tế Hải DươngCông lập23.80
14Trường Y Dược - ĐH Đà NẵngCông lập23.00
15ĐH Kỹ thuật Y Dược Đà NẵngCông lập22.85
16ĐH Y khoa VinhCông lập22.10
17ĐH Tây NguyênCông lập21.76
18ĐH Trà VinhCông lập21.25
19ĐH PhenikaaTư thục22.50
20ĐH Y Dược Buôn Ma ThuộtTư thục22.00
21ĐH Phan Châu TrinhTư thục21.50
22–33Các trường tư thục (Văn Lang, NTT, Duy Tân,...)Tư thục20.50
34ĐH VinUniTư thụcTuyển sinh riêng

Điểm chuẩn ngành Răng – Hàm – Mặt (2025)

STTTrườngLoại hìnhĐiểm chuẩn
1Trường Đại học Y Hà NộiCông lập27.34
2ĐH Y Dược - ĐHQG Hà NộiCông lập26.99
3ĐH Y Dược TP.HCMCông lập26.45
4ĐH Y Dược - ĐH Thái NguyênCông lập26.15
5ĐH Y khoa Phạm Ngọc ThạchCông lập25.26
6ĐH KH Sức khỏe - ĐHQG TP.HCMCông lập25.00
7ĐH Y Dược Hải PhòngCông lập24.63
8ĐH Y Dược - ĐH HuếCông lập24.40
9ĐH Y Dược Cần ThơCông lập23.35
10Trường Y Dược - ĐH Đà NẵngCông lập23.23
11ĐH Trà VinhCông lập20.75
12ĐH Phan Châu TrinhTư thục21.75
13–20Các trường tư thục còn lạiTư thục20.50
21ĐH Cửu LongTư thục19.00

Điểm chuẩn ngành Y học cổ truyền (2025)

STTTrườngLoại hìnhĐiểm chuẩn
1ĐH Y Dược Hải PhòngCông lập24.03
2Trường Đại học Y Hà NộiCông lập23.50
3ĐH Y Dược TP.HCMCông lập21.50
4ĐH Y khoa Phạm Ngọc ThạchCông lập21.10
5HV Y Dược học cổ truyền VNCông lập21.00
6ĐH KH Sức khỏe - ĐHQG TP.HCMCông lập20.10
7ĐH Y Dược - ĐH HuếCông lập19.60
8ĐH Y Dược Cần ThơCông lập19.50
9ĐH Y Dược Thái BìnhCông lập19.00
10ĐH Cửu LongTư thục20.50
11–14Các trường tư thục còn lạiTư thục19.00

Điểm chuẩn ngành Y học dự phòng (2025)

STTTrườngLoại hìnhĐiểm chuẩn
1ĐH Y Dược Hải PhòngCông lập19.35
2ĐH Y Dược TP.HCMCông lập19.00
3ĐH Y Dược - ĐH Thái NguyênCông lập18.30
4ĐH Y khoa VinhCông lập17.25
5–9Các trường công lập còn lạiCông lập17.00
10–11ĐH Nguyễn Tất Thành, ĐH Nam Cần ThơTư thục17.00