• :
  • :

Chuyện học xưa & nay: Trạng nguyên rũ bỏ quan trường tìm đường giác ngộ

Rũ bỏ mọi vinh hoa phú quý để tìm đến cửa thiền, Lý Đạo Tái không chỉ được nhắc đến như một Trạng nguyên triều Trần, mà còn sống mãi trong lịch sử với tư cách một thiền sư Trúc Lâm tiêu biểu.

Trạng nguyên Lý Đạo Tái có khoảng 30 năm làm quan, có nhiều đóng góp trong lĩnh vực ngoại giao, học thuật. Ảnh: ITN.

Trạng nguyên Lý Đạo Tái có khoảng 30 năm làm quan, có nhiều đóng góp trong lĩnh vực ngoại giao, học thuật. Ảnh: ITN.

Đứa trẻ xấu xí chiếm bảng Trạng nguyên

Câu chuyện về sự ra đời của Lý Đạo Tái mang đậm màu sắc truyền kỳ và đến nay vẫn được lưu truyền trong dân gian. Bà Lê Thị, mẹ ông, mãi đến năm 30 tuổi vẫn chưa có con nên thường xuyên lui tới chùa Ngọc Hoàng gần nhà để cầu tự. Đầu năm Giáp Dần (1254), trụ trì chùa Ngọc Hoàng là thiền sư Huệ Nghĩa nằm mộng thấy các tòa điện trong chùa bỗng rực sáng đèn hoa, chư Phật hiện thân uy nghi, Kim Cương, Long Thần hội tụ đông đủ, tạo nên một cảnh tượng linh thiêng khác thường.

Trong giấc mộng ấy, Đức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà và phán bảo: “Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí của Đông Độ, nhưng phải ghi nhớ duyên xưa”. Tôn giả A-nan-đà cúi đầu vâng mệnh, theo lời Phật mà đi. Cũng trong năm đó, bà Lê Thị mang thai và sinh một người con trai, đặt tên là Lý Đạo Tái, mở đầu cho cuộc đời gắn với những dấu ấn đặc biệt của phật pháp và lịch sử.

Theo sách “Tổ gia thực lục”, Lý Đạo Tái từ nhỏ đã tỏ ra thông minh hơn người, nghe một lần là nhớ. Tuy nhiên, vì gia cảnh nghèo khó, ông không được theo học chính thức, thường chỉ đứng ngoài cửa lớp lắng nghe, nhìn theo nét chữ của thầy, lấy cành cây làm bút, lấy sân đất làm bảng để học tập. Càng lớn lên, dung mạo ông lại không được ưa nhìn, nên thường phải chịu sự hắt hủi, coi thường của những người xung quanh.

Dù không có vẻ ngoài khôi ngô, tuấn tú, Lý Đạo Tái lại sở hữu trí tuệ vượt trội. Tư chất thông minh cùng với sự cần cù, hiếu học giúp ông nhanh chóng nổi bật về học vấn, trở thành học trò có tiếng giỏi giang trong vùng. Tuy vậy, vì dung mạo kém phần ưa nhìn, ông từng nhiều lần đi hỏi vợ nhưng đều bị từ chối, phải nếm trải không ít cay đắng của phận người trước khi bước vào con đường công danh.

Năm 20 tuổi, Lý Đạo Tái đỗ thi Hương, năm sau tiếp tục đỗ thi Hội. Đến khoa thi Giáp Tuất, niên hiệu Bảo Phù (1274), ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ, trở thành Trạng nguyên của triều Trần. Từ đây, danh vọng vang xa, nhiều gia đình quyền quý, giàu có tìm đến xin gả con gái cho vị tân khoa Trạng nguyên, nhưng ông đều khước từ, giữ lối sống điềm đạm, không màng đến chuyện hôn phối vì danh lợi.

Sau đó, Lý Đạo Tái được triều đình giao trọng trách tiếp sứ thần phương Bắc. Với tài văn chương xuất chúng và sự am tường kinh điển Nho gia, ông khiến sứ thần nể phục. Nhận thấy tài năng và đức độ của ông, nhà vua từng có ý gả công chúa Liễu Sinh (cháu của An Sinh vương) cho, nhưng ông kiên quyết từ chối. Tương truyền, trong tâm trạng ngậm ngùi trước thế thái nhân tình, Lý Đạo Tái đã viết hai câu thơ:

“Khó khăn thì chẳng ai nhìn/Đến khi đỗ trạng trăm nghìn nhân duyên”.

trang-nguyen-ru-bo-quan-truong-tim-duong-giac-ngo-2.jpg

Tượng chân dung thiền sư Huyền Quang. Ảnh: ITN.

“Duyên xưa” giác ngộ

Lý Đạo Tái được bổ nhiệm vào Viện Hàn lâm (Viện Nội Hàn) và trong suốt hơn 30 năm sau đó, ông tận tụy phụng sự triều đình tại đây. Nhờ trí tuệ sắc sảo, khả năng ứng đối linh hoạt cùng vốn học vấn uyên thâm, ông nhiều lần được giao trọng trách tiếp đón sứ giả phương Bắc, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Một lần, theo vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm (huyện Phượng Nhãn) nghe thiền sư Pháp Loa giảng kinh, Lý Đạo Tái bỗng thấy lòng mình rung động. Trước những lời thuyết pháp thâm sâu, vị đại quan triều Trần chợt thốt lên: “Phú quý vinh hoa thích thú, đáng lo như lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hè, sao ta có thể lưu luyến lâu dài được?” - một lời tự vấn báo hiệu bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông.

Kể từ đó, Lý Đạo Tái dần nảy sinh ý nguyện xuất gia theo Phật. Có ý kiến cho rằng, chính bài giảng của thiền sư Pháp Loa đã khiến ông vốn được xem là hiện thân của Tôn giả A-nan-đà chợt nhớ lại “duyên xưa” như lời Phật Tổ từng căn dặn. Dù được lý giải theo góc độ huyền tích hay lịch sử, thì việc Lý Đạo Tái kiên quyết từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý của một đại quan triều Trần để bước vào con đường tu hành là một sự thật không thể phủ nhận, đánh dấu bước ngoặt sâu sắc trong cuộc đời ông.

Thời bấy giờ, triều Trần đặc biệt sùng tín đạo Phật, bởi vậy sau vài lần dâng biểu xin từ quan để đi tu, Lý Đạo Tái đã được vua Trần chuẩn thuận. Năm 1305, ông chính thức xuống tóc xuất gia, lấy pháp hiệu là Huyền Quang. Thuở đầu bước vào cửa thiền, Huyền Quang đến chùa Lễ Vĩnh theo học đạo với thiền sư Bảo Phác, một đệ tử xuất sắc của thiền sư Pháp Loa, đặt nền móng cho con đường tu hành sau này.

Năm Hưng Long thứ 14 (1306), Trần Nhân Tông trụ trì chùa Siêu Loại, lập thiền sư Pháp Loa làm giảng chủ. Khi ấy, Huyền Quang theo thầy Bảo Phác đến nghe giảng và được Trần Nhân Tông tin cậy, cho làm thị giả. Trong khoảng hai năm sau đó, ông theo hầu Thượng hoàng, tham gia giúp việc biên soạn, khảo đính kinh sách. Trí tuệ uyên thâm và sự cẩn trọng trong học thuật của Huyền Quang khiến vị Sư tổ thiền phái Trúc Lâm hết sức hài lòng, từng khen rằng: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn, khảo đính thì không thể thêm bớt được một chữ nào nữa”.

trang-nguyen-ru-bo-quan-truong-tim-duong-giac-ngo-4.jpg

Tuy dung mạo xấu xí nhưng từ nhỏ Lý Đạo Tái rất thông minh, ham học hỏi. Ảnh: ITN.

Giữ tâm thiền trước mỹ sắc thế gian

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, khi còn trẻ, thiền sư Huyền Quang đã nổi tiếng khắp nơi là bậc chân tu, giới hạnh nghiêm cẩn. Tuy vậy, vua Trần Anh Tông vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng, nên quyết định thử xem thực hư. Nhà vua ban cho Huyền Quang 10 dật vàng có đóng dấu quốc khố. Huyền Quang một mực từ chối, nhưng vua vẫn ép nhận, bảo lấy 7 dật gửi về phụng dưỡng mẹ già, còn 3 dật giữ lại để phòng khi túng thiếu. Bất đắc dĩ, Huyền Quang nhận số vàng ấy rồi trở về tu hành tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.

Một hôm, vua Trần Anh Tông hỏi các quan hầu cùng chư tăng rằng: “Huyền Quang lão sư sống thanh khiết như gương sáng không vướng bụi trần, vậy là do đã dồn nén dục vọng hay thực sự không còn dục tình?”.

Nho thần Mạc Đĩnh Chi thưa rằng: “Vẽ hổ chỉ vẽ được hình ngoài da, khó vẽ đến xương cốt; xin bệ hạ cho thử thì mới rõ”. Vua nghe theo, liền sai cung nhân Điểm Bích - một người không chỉ xinh đẹp mà còn thông thạo kinh sử lên Yên Tử dò xét. Nhà vua dặn: “Vị tăng ấy vốn nổi tiếng giới hạnh nghiêm cẩn, khanh hãy tìm cách thử lòng. Nếu ông ta còn vướng dục tình, hãy khéo xin Kim tử bằng vàng mang về cho trẫm”.

Sau đó, Điểm Bích giả làm người đi lễ, lên chùa vào một đêm trăng sáng và xin nhà sư cho tá túc qua đêm. Thiền sư Huyền Quang chấp thuận, cho nàng nghỉ tại nhà phương trượng. Đêm ấy, Điểm Bích tìm cách đến gần, lân la trò chuyện, khéo léo dò xét và thử lòng. Tuy nhiên, Huyền Quang vẫn giữ tâm thanh tịnh, không chút dao động. Mọi cách quyến rũ đều không lay chuyển được người tu hành.

Trong lúc bối rối và tuyệt vọng, Điểm Bích buộc phải tiến thêm một bước, khiến Huyền Quang lúng túng. Đúng lúc ấy, bên ngoài có người gõ cửa xin thuốc, nhà sư liền mượn cớ thoát ra. Không đạt được mục đích, lại lo sợ mệnh vua trách phạt, Điểm Bích vừa xấu hổ vừa hoảng sợ, định ra phía sau núi tìm đến cái chết.

trang-nguyen-ru-bo-quan-truong-tim-duong-giac-ngo-3.jpg

Chùa Hoa Yên ghi đậm dấu ấn tu hành của thiền sư Huyền Quang. Ảnh: ITN.

Huyền Quang kịp thời hết lời can ngăn. Trong cơn tuyệt vọng, Điểm Bích bộc bạch rõ sự tình, khiến nhà sư không khỏi ái ngại. Để nàng tránh bị liên lụy và mang tội trước nhà vua, Huyền Quang liền trở vào phòng, lấy ba dật vàng trao cho nàng.

Điểm Bích mang số vàng ấy về dâng vua, đồng thời bịa thêm một bài thơ Nôm, nói là do Huyền Quang làm để trêu ghẹo mình trong đêm ở chùa: “Vằng vặc trăng mai ánh nước/Hiu hiu gió trúc ngâm sênh/Người hòa tươi tốt, cành hòa lạ/ Mâu thích ca, nào thú hữu tình!”.

Bài thơ Nôm mang ý tứ tình tứ ấy, lại kèm theo đúng số dật vàng có dấu quốc khố mà nhà vua từng ban, khiến vua Trần Anh Tông nổi giận, cho rằng Huyền Quang là “sư hổ mang”, toan trị tội nặng. Tuy nhiên, nhờ bà lão xin thuốc trong đêm hôm đó đứng ra kể lại đầu đuôi sự việc và đối chất cùng Điểm Bích, nhà vua cuối cùng mới hiểu ra rằng Huyền Quang đã bị nghi oan.

Sau biến cố ấy, thanh danh và giới hạnh của Huyền Quang càng được khẳng định. Năm 1317, ông chăm sóc thiền sư Pháp Loa tại viện An Lạc, và cũng trong năm này, Huyền Quang được trao truyền y bát của Trần Nhân Tông từ tay Đệ nhị Tổ Pháp Loa, chính thức trở thành Đệ tam Tổ, tiếp nối và phát huy thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Huyền Quang không chỉ là một thiền sư, một vị lãnh tụ của Giáo hội Trúc Lâm, mà còn là một thi sĩ lớn của thời Trần, có vị trí quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam. Thơ ông được các học giả đời sau như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đánh giá cao, cho rằng giàu chất trữ tình, “ý thơ tinh tế”, “lời thơ phóng khoáng”, thể hiện chiều sâu tư tưởng và phong thái ung dung của người tu hành am hiểu thế sự.

Những tác phẩm còn lưu truyền đến nay gồm bài phú Nôm vịnh chùa Vân Yên và tập thơ chữ Hán “Ngọc Tiên tập”. Bên cạnh đó, ông còn để lại nhiều trước tác có giá trị về Phật học và nghi lễ như: Chư phẩm kinh (tuyển chọn các kinh thiết yếu dùng hằng ngày), Công văn tập (gồm các bài sớ, văn điệp sử dụng trong nghi lễ và tán tụng), Thích khoa giáo (sách giáo khoa Phật học), cùng thư từ, văn bản dùng trong việc tiếp sứ thần. Tuy nhiên, do biến thiên lịch sử, một phần không nhỏ các tác phẩm của ông đã bị thất lạc.

Theo các nguồn sử liệu, ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334), thiền sư Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn. Đến ngày hôm sau, người dân quê hương Vạn Tải mới hay tin, vì vậy dân làng lấy ngày 24 tháng Giêng làm ngày kỵ giỗ để tưởng niệm. Trước công lao, tài năng và đức độ của Huyền Quang đối với Phật giáo Trúc Lâm, vua Trần Minh Tông đã ban lệnh dựng tháp, cấp tịnh tài lo việc tang lễ, đồng thời truy phong thụy hiệu “Trúc Lâm thiền sư Đệ tam đại”, đặc phong tự pháp “Huyền Quang tôn giả”.