• :
  • :

Bước tiến mới trong điều trị nam giới hiếm muộn

Sau khi làm chủ kỹ thuật microTESE, Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội (Học viện Quân y) đang chuẩn bị triển khai kỹ thuật ROSI (round spermatid injection) từ Nhật Bản. Nếu triển khai thành công, đây sẽ là bước tiến mới trong điều trị vô sinh nam, mở ra thêm cơ hội có con bằng chính huyết thống cho những trường hợp trước đây gần như không còn lựa chọn điều trị.

Mở hướng mới điều trị vô sinh nam

Trao đổi với phóng viên, Đại tá, PGS, TS Trịnh Thế Sơn, Giám đốc Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội cho biết, trước năm 1992, nam giới bị vô tinh gần như được coi là không thể có con. Tuy nhiên, các nghiên cứu sau này cho thấy khoảng 40% trường hợp vô tinh do tắc nghẽn (tức tinh hoàn vẫn sản xuất được tinh trùng nhưng tinh trùng không thể đi ra ngoài do đường dẫn bị tắc). Đến nay, gần như 100% trường hợp vô tinh do tắc đều có thể lấy được tinh trùng để thực hiện hỗ trợ sinh sản.

Khoảng 60% trường hợp còn lại là vô tinh không do tắc. Để điều trị nhóm bệnh nhân này, kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay là microTESE. Hiểu một cách đơn giản, bác sĩ sẽ đi thẳng vào "nhà máy sản xuất" để tìm những ống sinh tinh còn khả năng tạo ra tinh trùng để phục vụ hỗ trợ sinh sản. Đây là kỹ thuật rất khó, vì người bệnh đều thuộc nhóm vô tinh nặng. Phẫu thuật viên phải sử dụng kính vi phẫu có độ phóng đại lớn và thao tác hết sức tỉ mỉ để tìm được những ống sinh tinh còn hoạt động.

Là một trong những đơn vị đầu tiên triển khai bài bản kỹ thuật microTESE tại Việt Nam, Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội đã làm chủ kỹ thuật này và chuyển giao cho nhiều cơ sở hỗ trợ sinh sản trên cả nước. Nhờ đó, rất nhiều em bé đã được sinh ra từ những trường hợp trước đây từng được xem là không còn cơ hội có con. Tuy nhiên, ngay cả với microTESE, vẫn còn những bệnh nhân vô tinh không do tắc nhưng bác sĩ không phát hiện được tinh trùng trưởng thành. Đối với các trường hợp này, trong tinh hoàn chỉ còn lại những tế bào sinh tinh ở giai đoạn rất sớm, gọi là tinh tử tròn (round spermatid). Đây chính là cơ sở để phát triển kỹ thuật ROSI.

 Bác sĩ Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội (Học viện Quân y) kiểm tra sự thụ tinh của phôi. Ảnh: TUẤN DŨNG

Đại tá, PGS, TS Trịnh Thế Sơn chia sẻ, thực tế, kỹ thuật ROSI đã được nghiên cứu từ khá lâu nhưng đến nay vẫn còn khó khăn trong triển khai. Người đầu tiên đề xuất phương pháp ROSI là Giáo sư André Van Steirteghem (Bỉ). Sau này, Giáo sư Atsushi Tanaka (Nhật Bản) tiếp tục phát triển và đưa kỹ thuật vào ứng dụng lâm sàng. Theo các công bố của Giáo sư Tanaka, hiện đã có hơn 100 em bé tại Nhật Bản được sinh ra bằng phương pháp ROSI. Nhiều bác sĩ từ các quốc gia khác cũng đã sang Nhật Bản học tập kỹ thuật này để triển khai tại nước mình. Trên phạm vi toàn thế giới, đến nay đã có khoảng 1.000 em bé ra đời nhờ phương pháp ROSI. Tuy nhiên, tỷ lệ tạo phôi và tỷ lệ thành công của kỹ thuật hiện vẫn còn thấp.

Đào tạo nhân lực để làm chủ kỹ thuật

Đại tá, PGS, TS Trịnh Thế Sơn cho biết, Giáo sư Tanaka thông tin, nhóm nghiên cứu của ông đã phát triển một phương pháp mới liên quan đến tháo xoắn ADN, nhằm nâng cao hiệu quả của ROSI. Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ được công bố trong thời gian tới và được kỳ vọng sẽ cải thiện đáng kể tỷ lệ thành công của kỹ thuật. Trước những tiến bộ này, Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội dự kiến cử hai bác sĩ sang Nhật Bản học trực tiếp kỹ thuật ROSI và kỳ vọng sau khi hai bác sĩ hoàn thành khóa đào tạo tại Nhật Bản, cùng với sự hỗ trợ trực tiếp của Giáo sư Atsushi Tanaka tại Việt Nam, đơn vị sẽ sớm làm chủ kỹ thuật ROSI.

Là một trong hai bác sĩ của Viện được cử sang Nhật Bản học kỹ thuật ROSI, Đại úy, bác sĩ Phạm Đức Minh chia sẻ: “Tôi rất vui vì được Ban giám đốc tin tưởng, giao nhiệm vụ. Chúng tôi sẽ nỗ lực tìm hiểu, tiếp thu đầy đủ quy trình, làm chủ được kỹ thuật. Thời gian làm việc tại Viện, tôi luôn trăn trở trước khao khát làm cha của nhiều người đàn ông vô sinh. Kỹ thuật này nếu được triển khai thành công sẽ tạo thêm cơ hội cho những bệnh nhân trước đây gần như không còn lựa chọn điều trị”.

Mặc dù ROSI vẫn là kỹ thuật có tỷ lệ thành công chưa cao và cần tiếp tục hoàn thiện, song việc Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội chủ động tiếp cận, đào tạo nhân lực và chuẩn bị làm chủ công nghệ đánh dấu bước tiến mới trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản của Việt Nam. Nếu triển khai thành công, ROSI sẽ mở ra thêm cơ hội cho nhóm nam giới vô tinh nặng nhất thực hiện được ước mơ có con mang huyết thống của mình, đồng thời góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của y học Việt Nam trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản.