Tháo gỡ vướng mắc thể chế để làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ biển
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào vị trí kiến tạo nền tảng cho quốc gia biển mạnh. Trong đó, yêu cầu “làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ biển” cũng đặt ra “bài toán” thể chế mới: hình thành hạ tầng dữ liệu biển thống nhất, có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác nhưng đồng thời phải bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia.
Thách thức về “lấp đầy khoảng trống” dữ liệu biển và đại dương
Tại Diễn đàn Biển Việt Nam năm 2026 ngày 2/10/2026, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Trần Trung Tính nhận định: Việt Nam cần mạnh về tri thức biển, dữ liệu biển và công nghệ biển để trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và phát triển bền vững. KHCN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để Việt Nam bứt phá trong phát triển biển.
Tại Hội thảo “KHCN, ĐMST và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh” ngày 21/8/2026, Bộ KH&CN cho biết, mới khoảng 7,5% diện tích biển Việt Nam được điều tra địa chất chi tiết ở tỷ lệ 1:100.000. Theo TS Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Bộ KH&CN, dữ liệu điều tra cơ bản biển hiện còn mỏng, thiếu chi tiết và nằm phân tán tại nhiều cơ quan. Hạ tầng dữ liệu số chưa liên thông, trong khi Việt Nam thiếu tàu nghiên cứu biển sâu, robot tự hành và thiết bị ngầm. Năng lực khảo sát, quan trắc biển sâu còn hạn chế; mạng lưới viện, trường thiếu liên kết, doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào chuỗi ĐMST.
Trong một mô hình quản trị biển hiện đại, thiếu dữ liệu đồng nghĩa với hạn chế khả năng nhận diện tài nguyên, dự báo thiên tai, đánh giá sức chịu tải của môi trường, tổ chức quy hoạch không gian biển, lựa chọn địa điểm đầu tư, giám sát hoạt động trên biển và xử lý xung đột giữa các nhu cầu sử dụng không gian. Khoảng trống về dữ liệu, hạ tầng và công nghệ đặt ra yêu cầu tổ chức lại năng lực nghiên cứu biển theo những “bài toán lớn” của quốc gia. Nghị quyết 20-NQ/TW yêu cầu “xây dựng quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, đồng bộ, dựa trên KHCN, dữ liệu số”; đồng thời xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Hình thành 2 - 3 tổ chức nghiên cứu về KHCN và ĐMST biển dẫn đầu trong khu vực ASEAN. Có 1 - 2 tàu nghiên cứu biển sâu lưỡng dụng; Hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển. Tỉ lệ số hóa, tích hợp và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường, hạ tầng và hoạt động biển đạt 100% trong hệ thống quản lý nhà nước.
Trong khung pháp luật hiện hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã quy định về điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và hệ thống dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Theo đó, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia được xác định là “tập hợp thống nhất toàn bộ dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong phạm vi cả nước được chuẩn hóa theo chuẩn quốc gia, được số hóa để cập nhật, quản lý, khai thác bằng hệ thống công nghệ thông tin”. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm điều tra, thu thập dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để xây dựng cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương; cung cấp dữ liệu để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia.
Như vậy, vấn đề đặt ra là khả năng chuyển từ các kho dữ liệu chuyên ngành, phân tán thành một hạ tầng dữ liệu biển thống nhất, đủ độ sâu, được cập nhật liên tục và có khả năng phục vụ đồng thời quản trị nhà nước, nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế, quốc phòng và an ninh. Đáng chú ý, dự án Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) hiện đang được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng chồng chéo, tháo gỡ các vướng mắc pháp lý hiện hữu.
Mặt khác, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia đã xác định yêu cầu làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu; đồng thời an ninh dữ liệu và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng phải được bảo đảm xuyên suốt. Dữ liệu về địa hình đáy biển, địa chất, khoáng sản, luồng hàng hải, nguồn lợi sinh vật, công trình ngầm, môi trường, khí tượng - thủy văn hay các hoạt động kinh tế trên biển vừa có giá trị nghiên cứu và thương mại, vừa có thể gắn trực tiếp với quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Do đó, cần xác lập một cơ chế phân loại đủ rõ: dữ liệu nào phải mở để thúc đẩy nghiên cứu, ĐMST và kinh doanh; dữ liệu nào được chia sẻ có điều kiện…
Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã hình thành khuôn khổ chung cho “bài toán” này. Luật phân loại dữ liệu theo tính chất chia sẻ dữ liệu gồm: dữ liệu dùng chung, dữ liệu dùng riêng và dữ liệu mở; phân loại theo tính chất quan trọng gồm: dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng và dữ liệu khác. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm công bố danh mục dữ liệu mở để tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và chia sẻ. Luật cũng đưa ra các quy định quan trọng về thu thập, kết nối, chia sẻ và điều phối dữ liệu như: Dữ liệu có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ thì không thu thập lại; Cơ quan nhà nước thực hiện điều phối dữ liệu thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm dữ liệu chia sẻ an toàn, đồng bộ, hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sẵn sàng để kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép khai thác dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Ưu tiên làm chủ công nghệ biển tiên tiến, ngoại giao khoa học biển
Nghị quyết 20-NQ/TW cũng yêu cầu phát triển hạ tầng số biển; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám, Internet vạn vật; phát triển công nghệ biển sâu, quan trắc biển, hệ thống giám sát biển thông minh, công nghệ biển thế hệ mới; đồng thời tập trung nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ các công nghệ tiên tiến về biển, đại dương.
Nghị quyết 20-NQ/TW cũng nêu rõ yêu cầu “triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, mô hình và ngành, lĩnh vực biển mới”. Cơ chế này đặc biệt cần thiết đối với công nghệ biển. Robot ngầm, phương tiện tự hành, vật liệu mới, hệ thống nuôi biển thông minh hay công nghệ năng lượng tái tạo ngoài khơi không thể chỉ được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Chúng phải được kiểm chứng trong môi trường biển thực tế, nơi các điều kiện về sóng, gió, độ mặn, áp suất và ăn mòn tạo ra những rủi ro khác hoàn toàn trên đất liền. Về mặt pháp lý, Luật KHCN & ĐMST năm 2025 đã tạo nền tảng pháp lý mới theo hướng chấp nhận tính rủi ro của hoạt động nghiên cứu, thúc đẩy ĐMST và thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ mới. Bên cạnh cơ chế “sandbox” về pháp lý, cần hình thành không gian thử nghiệm công nghệ biển cùng hạ tầng dùng chung, cho phép viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các đơn vị quốc phòng phối hợp thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện sản phẩm.
Đáng chú ý, các vấn đề về tài nguyên, môi trường, khí hậu và phát triển biển bền vững ngày càng mang tính xuyên biên giới, đòi hỏi hợp tác quốc tế trở thành một trụ cột chiến lược của KHCN biển. Trong đó, ngoại giao khoa học biển là cầu nối giúp Việt Nam tiếp cận tri thức, công nghệ tiên tiến và tham gia sâu hơn vào các mạng lưới nghiên cứu quốc tế; đồng thời là cơ hội để Việt Nam đóng góp sáng kiến vào giải quyết những vấn đề chung của biển và đại dương.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, Bộ KH&CN đề xuất 4 hướng hợp tác quốc tế trọng tâm, từ nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ đến kết nối dữ liệu và phát triển nhân lực khoa học biển. Một là, hợp tác nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ các công nghệ biển tiên tiến, công nghệ mới. Những lĩnh vực được đề xuất gồm phương tiện ngầm tự hành, viễn thám đại dương, cáp ngầm biển tốc độ cao, trung tâm dữ liệu biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và công nghệ sinh học biển. Hai là, tăng cường hợp tác xây dựng và kết nối hạ tầng dữ liệu đại dương khu vực, toàn cầu. Theo đó, Việt Nam sẽ tham gia sâu hơn vào các chương trình quan trắc, chia sẻ và khai thác dữ liệu trong khuôn khổ Thập kỷ Khoa học đại dương vì sự phát triển bền vững 2021 - 2030 của Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác đa phương liên quan.
Ba là, thúc đẩy hình thành các cơ chế liên kết chiến lược giữa những tổ chức nghiên cứu biển hàng đầu của Việt Nam với các trường đại học, viện và trung tâm nghiên cứu biển có thế mạnh trên thế giới, mục tiêu là hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu biển Việt Nam từng bước đạt trình độ dẫn đầu ASEAN. Bốn là, tập trung vào đào tạo và thu hút nhân lực khoa học biển chất lượng cao. Bộ KH&CN đang nghiên cứu cơ chế nâng cao chất lượng hợp tác đào tạo quốc tế, thu hút chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu tham gia trực tiếp vào các chương trình khoa học và công nghệ biển trọng điểm của Việt Nam.
(Còn tiếp)




In bài viết