• :
  • :

Mốc son mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, mỗi kỳ Đại hội của Đảng đều đánh dấu một bước phát triển mới của tư duy lãnh đạo và đường lối cách mạng, phản ánh yêu cầu và nhiệm vụ của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử.

doan-ha-noi.jpg

Đoàn đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: Duy Linh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) diễn ra trong bối cảnh đặc biệt như vậy, khi Việt Nam đã tích lũy đủ thế và lực sau gần 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng, 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, đồng thời đứng trước yêu cầu cấp bách phải bứt phá để bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của tự chủ, sáng tạo, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.

Để Đại hội XIV thực sự trở thành mốc son mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, việc tổng kết, đánh giá và chắt lọc những bài học căn cốt của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, cũng như suốt gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những bài học ấy không chỉ là sự kết tinh của thực tiễn cách mạng phong phú, mà còn thể hiện sự tiếp nối và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của Đảng và dân tộc ta.

Đại hội XIV - kế thừa bài học, kiến tạo tương lai

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với ba trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là kết quả của quá trình vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại.

Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước yêu cầu phải phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn để không bị tụt hậu. Những bài học căn cốt được đúc kết từ nhiệm kỳ Đại hội XIII và gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng chính là nền tảng tư tưởng - chính trị vững chắc để Đảng ta hoạch định tầm nhìn, định hướng chiến lược và tổ chức thực hiện thành công các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới.

Có thể khẳng định, Đại hội XIV không chỉ là sự tiếp nối của các kỳ Đại hội trước, mà là dấu mốc mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Với bản lĩnh của một Đảng cầm quyền cách mạng, khoa học và nhân văn; với nền tảng tư tưởng vững chắc (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới); với hệ thống bài học quý báu đã được lịch sử và thực tiễn cách mạng kiểm nghiệm, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ điều kiện và uy tín để tiếp tục lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhiệm kỳ Đại hội XIII - thực tiễn sinh động làm sâu sắc bản lĩnh Đảng cầm quyền

Nhiệm kỳ Đại hội XIII diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường. Đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống... đã tạo ra những thách thức chưa từng có đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trước những biến động ấy, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh của một Đảng cầm quyền cách mạng, khoa học và nhân văn.

Bài học nổi bật trước hết là sự kiên định mục tiêu chiến lược gắn với linh hoạt trong sách lược. Đảng kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới. Đồng thời, Đảng vận dụng sáng tạo tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ động điều chỉnh chính sách, phản ứng kịp thời trước những biến động chưa có tiền lệ, vừa kiểm soát hiệu quả khủng hoảng, vừa duy trì ổn định chính trị - xã hội và phục hồi, phát triển kinh tế.

Một bài học lớn khác được thực tiễn nhiệm kỳ Đại hội XIII khẳng định sâu sắc là giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Điều này không chỉ làm trong sạch bộ máy, mà quan trọng hơn là củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng - yếu tố sống còn của một Đảng cầm quyền.

Đặc biệt, bài học “dân là gốc” tiếp tục được quán triệt và thực hành một cách sâu sắc, nhất quán. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể làm nên lịch sử, là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng. Nhiệm kỳ Đại hội XIII đã cho thấy rõ việc lấy nhân dân làm trung tâm, bảo vệ tính mạng, đời sống và quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân là mục tiêu xuyên suốt, tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn, góp phần quyết định vào thành công của các chủ trương, chính sách lớn.

Những bài học căn cốt, xuyên suốt

Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tích lũy và đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm lớn, mang tính quy luật. Trước hết là bài học nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn và kiên trì theo đuổi. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập dân tộc. Đây là bài học xuyên suốt, có ý nghĩa chiến lược, quyết định bản chất và phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam.

Bài học thứ hai mang tính nền tảng - sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh rằng, mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân, từ sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân không chỉ làm suy yếu Đảng, mà còn đe dọa trực tiếp đến vận mệnh của chế độ.

Một bài học có ý nghĩa sống còn khác là không ngừng củng cố và tăng cường đoàn kết: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn biết phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết - “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.

Bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tiếp tục có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập; ngược lại, đó là cơ sở để chủ động, tích cực hội nhập, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước, đồng thời giữ vững lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trên hết, bài học có tính quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Để xứng đáng với vai trò lãnh đạo, cầm quyền, Đảng phải không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức; phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, khắc phục khuyết điểm, phòng và chống các nguy cơ lớn, như sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, sự thoái hóa, biến chất. Đây là những chỉ dẫn có giá trị trường tồn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nguồn:hanoimoi.vn Sao chép liên kết