Nông nghiệp Việt Nam vững vàng trước “sóng gió”
Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, xung đột địa chính trị kéo dài và chi phí sản xuất gia tăng, ngành Nông nghiệp Việt Nam vẫn cho thấy sức chống chịu mạnh mẽ. Không chỉ duy trì tăng trưởng ổn định trong quý I-2026, lĩnh vực này còn từng bước vượt “sóng gió”, vươn ra thị trường thế giới, khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế nước ta.
Khẳng định vai trò trụ đỡ

Công nhân chế biến thủy sản xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Phạm Hùng
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, những biến động mạnh của giá xăng, dầu, năng lượng cùng tác động kéo dài của xung đột Nga, Ukraine, chiến tranh thương mại và rủi ro toàn cầu đã ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ chuỗi sản xuất nông nghiệp, từ khai thác thủy sản, trồng trọt đến chế biến và xuất khẩu. Đặc biệt, chi phí đầu vào tăng cao khiến nhiều ngành hàng chịu áp lực lớn. Tuy nhiên, vượt lên những khó khăn đó, ngành nông nghiệp vẫn duy trì nền tảng ổn định sau hơn 40 năm tái cơ cấu. Trong quý I-2026, tăng trưởng GDP toàn ngành ước đạt từ 3,5-3,7%, đúng kịch bản đề ra.
Kết quả sản xuất cho thấy nhiều điểm sáng trong lĩnh vực trồng trọt, dù diện tích gieo cấy lúa đông xuân giảm nhẹ 1,3% và sản lượng giảm khoảng 5,5% nhưng vẫn bảo đảm nguồn cung lương thực trong nước và phục vụ xuất khẩu. Chăn nuôi tiếp tục phục hồi tích cực với sản lượng thịt lợn tăng gần 5%, gia cầm tăng gần 6% và thịt bò tăng hơn 2%. Ở lĩnh vực lâm nghiệp, diện tích rừng trồng mới tăng 3%, sản lượng gỗ khai thác tăng 2,6%. Thủy sản tiếp tục khởi sắc khi đạt 2,18 triệu tấn, tăng 3,2%, trong đó nuôi trồng tăng mạnh hơn 5%. “Trong bối cảnh nhiều khó khăn, ngành vẫn duy trì các chỉ tiêu, tiếp tục phát huy vai trò trụ đỡ của nền kinh tế”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.
Một trong những điểm nổi bật của ngành Nông nghiệp quý I-2026 là hoạt động xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 11,9 tỷ USD, xuất siêu 4,78 tỷ USD, tăng 12%. Đáng chú ý, thị trường châu Á tiếp tục đóng vai trò chủ lực với giá trị xuất khẩu đạt 7,5 tỷ USD, tăng mạnh 15,3%. Trong đó, Trung Quốc là thị trường lớn nhất, chiếm 22,1% thị phần và tăng trưởng 37,6%. Nhật Bản duy trì mức tăng nhẹ, trong khi thị trường Mỹ ghi nhận sụt giảm 5,2%.
Dù vậy, bức tranh xuất khẩu không hoàn toàn thuận lợi. Một số khu vực như: Châu Mỹ và châu Phi ghi nhận mức giảm, trong khi nhiều ngành hàng chủ lực có dấu hiệu chững lại. Cụ thể, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ giảm 3,5%, cà phê giảm 6,4% và hạt điều giảm 1,8%. Ngược lại, một số ngành hàng duy trì đà tăng trưởng ấn tượng như: Rau quả tăng hơn 32%, thủy sản tăng 13,3%, hồ tiêu tăng gần 29%. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa này là do chi phí logistics và năng lượng tăng cao cùng biến động khó lường của thị trường quốc tế.
Đặc biệt, xung đột quân sự tại Trung Đông đang tạo rủi ro mới đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tuyến vận tải quan trọng như: Biển Đỏ và kênh đào Suez chịu nhiều tác động, kéo theo chi phí vận chuyển và bảo hiểm tăng mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang các thị trường Trung Đông, châu Phi, châu Âu... Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Trần Gia Long nhận định, kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều bất ổn, từ lạm phát, giá hàng hóa tăng cao đến chính sách tiền tệ thắt chặt. Những yếu tố này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn khiến nhu cầu tiêu dùng tại nhiều thị trường suy giảm…
Tạo xung lực mới để “xé rào” bứt phá
Trước những thách thức đó, ngành Nông nghiệp Việt Nam đang chủ động triển khai hàng loạt giải pháp đồng bộ nhằm duy trì tăng trưởng và mở rộng thị trường xuất khẩu. Trước mắt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung ổn định nguồn cung và giá các yếu tố đầu vào như: Phân bón, xăng, dầu nhằm giảm chi phí sản xuất; tăng cường theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, đặc biệt là các rủi ro liên quan đến logistics và an ninh hàng hải để kịp thời cảnh báo doanh nghiệp. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh, bao gồm: Giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho và bảo quản hàng hóa, nhất là đối với các mặt hàng dễ hư hỏng như thủy sản và rau quả. Bên cạnh đó, hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài được tăng cường vai trò trong việc kết nối thị trường và xử lý tranh chấp thương mại.
Về dài hạn, ngành đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 3,7% và phấn đấu đạt 4% trong năm 2026 với kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 73-75 tỷ USD.
Để đạt mục tiêu, một trong những hướng đi quan trọng là đẩy mạnh tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực then chốt. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, Bộ tập trung đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng thị phần. Không chỉ củng cố các thị trường truyền thống như: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản... Việt Nam còn hướng tới các thị trường: Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh... còn nhiều tiềm năng với phương châm đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, góp phần từng bước giảm xuất khẩu tiểu ngạch; có lộ trình, phương án giải pháp rõ ràng đẩy mạnh tiêu thụ nội địa đối với những sản phẩm có tính thời vụ cao như: Rau, hoa, quả...
“Cần tạo xung lực mới trong toàn ngành, từ hoàn thiện cơ chế chính sách đến thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững trong giai đoạn tới”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.
Có thể thấy, trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nông nghiệp Việt Nam đang chứng minh khả năng thích ứng linh hoạt và sức bật mạnh mẽ. Không chỉ giữ vững vai trò trụ đỡ nền kinh tế, nông nghiệp còn từng bước vượt qua rào cản để vươn ra thị trường toàn cầu, khẳng định vị thế ngày càng quan trọng trên bản đồ nông nghiệp thế giới.




In bài viết