• :
  • :

Mục tiêu đạt 10 - 12% GDP vào năm 2030: Du lịch Việt Nam sẽ phải tạo thêm giá trị ở đâu?

Mục tiêu đưa đóng góp trực tiếp của du lịch lên 10 - 12% GDP vào năm 2030 đặt ra một yêu cầu lớn hơn việc gia tăng lượng khách.

Du lịch Việt Nam sẽ phải tạo thêm giá trị ở đâu? - ảnh 1

Mỗi lượt khách tạo ra bao nhiêu doanh thu, ở lại bao lâu, sử dụng bao nhiêu dịch vụ và bao nhiêu phần chi tiêu được giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam?

Khi quy mô thị trường tiếp tục mở rộng, giá trị tạo ra từ mỗi chuyến đi, mỗi ngày lưu trú và mỗi hoạt động trải nghiệm sẽ quyết định khả năng nâng tầm đóng góp của du lịch đối với nền kinh tế.

Nâng đóng góp của ngành Du lịch đối với nền kinh tế

Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP, đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu 80 - 90 tỉ USD.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 26 cũng xác định yêu cầu phát triển du lịch theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao.

Những mục tiêu ấy đặt ngành Du lịch trước một bài toán lớn hơn quy mô thị trường. Lượng khách vẫn phải tăng, nhưng sức đóng góp của du lịch đối với nền kinh tế còn phụ thuộc vào khả năng biến mỗi dòng khách thành nhiều giá trị kinh tế hơn.

Năm 2025, du lịch trực tiếp đóng góp gần 8,8% GDP và tạo ra khoảng 4,41 triệu việc làm, tương đương 8,5% lực lượng lao động. Quy mô đóng góp đã khá lớn, song khoảng cách từ mức gần 8,8% đến mục tiêu 10 - 12% vào năm 2030 vẫn đòi hỏi sự gia tăng đáng kể về hiệu quả kinh tế của ngành.

Vì thế, câu chuyện của giai đoạn tới không nên chỉ được đo bằng việc có thêm bao nhiêu triệu lượt khách. Cần đặt cạnh con số ấy những câu hỏi có ý nghĩa quyết định hơn: Mỗi lượt khách tạo ra bao nhiêu doanh thu, ở lại bao lâu, sử dụng bao nhiêu dịch vụ và bao nhiêu phần chi tiêu được giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam?

Một du khách lưu trú thêm một đêm sẽ tạo thêm nhu cầu về lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm và trải nghiệm. Khả năng tạo ra giá trị của một điểm đến vì thế gắn trực tiếp với năng lực hình thành đủ sản phẩm để giữ chân du khách lâu hơn và mở rộng không gian chi tiêu.

Nhiều điểm đến đã có lượng khách lớn nhưng thời gian lưu trú còn ngắn, khiến mức chi tiêu trên mỗi chuyến đi chưa tương xứng với tiềm năng. Phát triển những sản phẩm trải nghiệm có chiều sâu, dịch vụ giải trí, ẩm thực và mua sắm, đặc biệt vào buổi tối, sẽ mở thêm dư địa gia tăng doanh thu.

Kinh tế ban đêm vì thế cần được nhìn nhận như một bộ phận của năng lực tạo giá trị du lịch. Khi sau 22 giờ vẫn có những trải nghiệm đủ sức hấp dẫn, mỗi ngày lưu trú của du khách sẽ có thêm cơ hội tạo doanh thu.

Hà Nội, TP.HCM, Quảng Ninh, Phú Quốc, Huế, Đà Nẵng hay Hội An đều có khả năng phát triển những mô hình như vậy, với yêu cầu sản phẩm phải đủ sức khiến du khách chủ động dành thêm thời gian và ngân sách.

Du lịch MICE cũng mở ra một không gian tạo giá trị rộng. Một hội nghị, hội thảo hay chương trình khen thưởng có thể kéo theo nhu cầu về lưu trú, vận chuyển, ẩm thực, giải trí và các chương trình văn hóa.

Vì vậy, cơ cấu thị trường du lịch cần được nhìn từ giá trị kinh tế mà mỗi dòng khách tạo ra và sức lan tỏa của dòng chi tiêu tới các ngành liên quan.

Công nghiệp văn hóa: Kho giá trị còn rộng

Du lịch có một lợi thế đặc biệt, du khách sẵn sàng chi trả cho những giá trị mà họ không thể mang về bằng một sản phẩm vật chất thông thường.

Nghệ thuật, di sản, thiết kế, thủ công mỹ nghệ và ẩm thực đều có thể được chuyển hóa thành những sản phẩm du lịch giàu giá trị kinh tế khi được đầu tư sáng tạo và tổ chức bài bản. Đây là điểm giao quan trọng giữa du lịch và công nghiệp văn hóa, đồng thời là khoảng không gian còn rất rộng để gia tăng giá trị cho mỗi dòng khách.

Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa lớn, nhưng khả năng chuyển hóa nguồn lực ấy thành những sản phẩm có giá trị thương mại vẫn còn nhiều dư địa.

Giá trị của di sản, lễ hội và nghệ thuật truyền thống có thể được mở rộng khi được đặt trong những cách thức khai thác sáng tạo, phù hợp với nhu cầu trải nghiệm ngày càng đa dạng của du khách.

Di sản có thể trở thành chất liệu cho các chương trình nghệ thuật trình diễn, công nghệ kể chuyện và những tuyến trải nghiệm chuyên sâu. Lễ hội có thể mở rộng thành không gian ẩm thực, thiết kế, mua sắm và giải trí mang bản sắc.

Nghệ thuật truyền thống cũng có thể phát triển thành sản phẩm biểu diễn, thời trang, quà tặng, nội dung số hoặc những trải nghiệm văn hóa có khả năng tạo doanh thu.

Chính phủ cũng xác định phát triển du lịch gắn với phát triển văn hóa, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW.

Nếu những giá trị văn hóa được tổ chức thành sản phẩm đủ sức hấp dẫn và có khả năng thương mại hóa phù hợp, du lịch sẽ tạo thêm doanh thu, trong khi văn hóa có thêm nguồn lực để được bảo tồn, sáng tạo và phát huy. Đây là mối quan hệ cần được nhìn nhận theo hướng tạo giá trị cho cả hai lĩnh vực.

Khách chi nhiều nhưng giá trị ở lại bao nhiêu?

Một câu hỏi khác có ý nghĩa không kém là trong tổng số tiền một du khách chi tiêu, bao nhiêu phần thực sự trở thành giá trị gia tăng tại điểm đến?

Một du khách chi 1.000 USD trong chuyến đi không đồng nghĩa toàn bộ 1.000 USD đều trở thành giá trị gia tăng tại địa phương. Một phần có thể dành cho vận chuyển, nền tảng đặt phòng, doanh nghiệp ngoài địa phương hoặc những dịch vụ có chuỗi cung ứng nằm ngoài điểm đến.

Bởi vậy, nâng đóng góp của du lịch không chỉ là câu chuyện tăng tổng chi tiêu mà còn là khả năng phát triển chuỗi cung ứng trong nước và tại địa phương.

Nông sản địa phương đi vào nhà hàng; sản phẩm thủ công đi vào hệ thống quà tặng; nghệ sĩ địa phương tham gia chương trình biểu diễn; doanh nghiệp vận tải, công nghệ, bán lẻ, giải trí cùng tham gia chuỗi dịch vụ. Khi nhiều mắt xích trong nền kinh tế cùng hưởng lợi từ chi tiêu của khách, hiệu ứng lan tỏa của du lịch sẽ lớn hơn.

Đây cũng là lý do yêu cầu liên kết ngành, liên kết vùng có ý nghĩa đặc biệt đối với mục tiêu nâng đóng góp của du lịch. Nghị quyết 26-NQ/TW xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng, đồng thời nhấn mạnh liên kết ngành, liên kết vùng và huy động hiệu quả các nguồn lực.

Mục tiêu 10 - 12% GDP không chỉ đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch. Đó là bài toán của cả hệ sinh thái kinh tế cùng tham gia vào quá trình tạo ra, cung ứng và giữ lại giá trị từ dòng khách.

Du lịch Việt Nam sẽ phải tạo thêm giá trị ở đâu? - ảnh 2

Việt Nam có nhiều tài nguyên nhưng cần tổ chức nguồn tài nguyên ấy thành những sản phẩm có giá trị cao và đủ sức giữ chân du khách

Không gian tăng trưởng nằm ở chất lượng sản phẩm

Việt Nam đã có nền tảng tài nguyên đủ rộng để phát triển nhiều phân khúc. Vấn đề còn lại là khả năng tổ chức nguồn tài nguyên ấy thành những sản phẩm có giá trị cao và đủ sức giữ chân du khách.

Một bãi biển đẹp tạo lợi thế ban đầu, nhưng giá trị kinh tế sẽ lớn hơn khi điểm đến được phát triển thành một hệ sinh thái trải nghiệm với thể thao nước, du thuyền, ẩm thực, âm nhạc, chăm sóc sức khỏe, mua sắm và các sự kiện.

Tương tự, các di sản giàu giá trị lịch sử sẽ mở thêm nhiều lớp giá trị khi được kết nối với nghệ thuật trình diễn, công nghệ kể chuyện, ẩm thực, thiết kế, sản phẩm lưu niệm và những tuyến trải nghiệm chuyên sâu.

Cùng một tài nguyên, cách tổ chức sản phẩm khác nhau có thể tạo ra những mức giá trị kinh tế hoàn toàn khác nhau.

Đó là lý do chất lượng sản phẩm trở thành một trong những không gian quan trọng nhất để du lịch gia tăng đóng góp cho nền kinh tế. Giá trị không nằm nguyên trong tài nguyên; giá trị được tạo ra thêm qua khả năng sáng tạo, tổ chức dịch vụ, kết nối các ngành và đưa những nguồn lực sẵn có vào một chuỗi trải nghiệm có khả năng tạo doanh thu.

12% GDP không thể chỉ đến từ tăng thêm lượt khách

Mục tiêu 45 - 50 triệu khách quốc tế và 160 triệu khách nội địa vào năm 2030 là động lực quan trọng cho tăng trưởng. Nhưng nếu chỉ gia tăng lượng khách trong khi năng lực cung ứng, hạ tầng, chất lượng dịch vụ và khả năng tạo doanh thu không theo kịp, áp lực lên điểm đến cũng sẽ tăng.

Chương trình hành động của Chính phủ đã đặt yêu cầu phát triển du lịch theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao. Đây chính là hướng tiếp cận phù hợp với bài toán đưa đóng góp trực tiếp của ngành Du lịch lên 10 - 12% GDP.

Khi đó, những chỉ số như số khách, số phòng hay công suất lưu trú cần được đặt cạnh những chỉ số phản ánh chất lượng tăng trưởng: Mức chi tiêu bình quân của một du khách, thời gian lưu trú, doanh thu trên mỗi khách, tỉ lệ khách quay trở lại, doanh thu từ kinh tế ban đêm, quy mô MICE, doanh thu từ công nghiệp văn hóa và tỉ lệ giá trị được tạo ra trong chuỗi cung ứng địa phương.

Một điểm đến có thể đón ít khách hơn điểm đến khác nhưng tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn nếu khách ở lâu hơn, chi tiêu cao hơn và sử dụng nhiều dịch vụ hơn.

Nhìn từ góc độ đó, bài toán của du lịch Việt Nam không chỉ là làm thế nào để có thêm khách, mà là làm thế nào để mỗi dòng khách tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.

Giá trị mới sẽ quyết định mức đóng góp vào GDP

Mục tiêu 10 - 12% GDP đặt ra yêu cầu nâng năng suất của toàn bộ hệ sinh thái du lịch.

Công nghệ đang mở rộng khả năng tạo giá trị của doanh nghiệp du lịch khi giúp họ hiểu sâu hơn nhu cầu và hành vi của khách hàng, từ đó điều chỉnh sản phẩm, giá bán, nhân lực và công suất theo nhu cầu thực tế.

Ở cấp độ quản lý, dữ liệu cung cấp cơ sở để nhận diện dòng khách, theo dõi mức chi tiêu, đánh giá hiệu quả từng thị trường và chủ động phân bổ nguồn lực phù hợp với sức chịu tải của điểm đến.

Khi thanh toán số trở nên phổ biến và các dịch vụ được kết nối trên cùng một hệ sinh thái, hành trình của du khách cũng trở nên thuận tiện hơn.

Di chuyển, lưu trú, tham quan, mua sắm và giải trí có thể được liên kết thành một chuỗi trải nghiệm liền mạch, qua đó mở rộng cơ hội để du khách sử dụng dịch vụ và gia tăng mức chi tiêu trong suốt chuyến đi.

Khi năng lực quản trị được nâng lên, cùng một lượng khách có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn.

Nghị quyết 26-NQ/TW cũng đặt yêu cầu đổi mới quản trị du lịch theo hướng hiện đại, quản trị dựa trên dữ liệu và gắn với quy hoạch không gian phát triển, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, di sản.

Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn mà quy mô thị trường du lịch có thể tiếp tục mở rộng mạnh. Nhưng mục tiêu đưa đóng góp trực tiếp trên 10% GDP đòi hỏi nhiều hơn tốc độ tăng lượng khách.

Điểm quyết định nằm ở khả năng kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng mức chi tiêu và đưa thêm nhiều ngành kinh tế tham gia vào chuỗi giá trị du lịch. Khi di sản, nghệ thuật, nông sản, thủ công, thiết kế, công nghệ và dịch vụ địa phương cùng tạo ra giá trị từ dòng khách, phần đóng góp được giữ lại trong nền kinh tế cũng sẽ lớn hơn.

Vì thế, thước đo quan trọng của du lịch Việt Nam trong những năm tới không chỉ là mỗi năm đón bao nhiêu triệu lượt khách, mà là mỗi du khách tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế, doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng.

Đó mới là phần quyết định để mục tiêu đóng góp vào GDP năm 2030 đạt trên 10% trở thành năng lực tạo giá trị cao hơn của nền kinh tế du lịch Việt Nam.