Điểm nghẽn dữ liệu của ngành tôm Đồng bằng sông Cửu Long
Từng tạo lợi thế bằng sản lượng lớn, chi phí cạnh tranh và năng lực chế biến hàng đầu, ngành tôm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với thách thức mới trước các yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế. Khi dữ liệu là “tấm vé thông hành” quyết định khả năng xuất khẩu, những khoảng trống thông tin từ ao nuôi, trại giống đến khâu thu mua đang bộc lộ rõ và trở thành điểm nghẽn lớn nhất của ngành tôm toàn vùng.
Sức ép từ thị trường
Những năm gần đây, cùng với việc các hiệp định thương mại tự do dần xóa bỏ rào cản thuế quan, các thị trường nhập khẩu lớn lại dựng lên những “hàng rào” mới mang tên phát triển bền vững, giảm phát thải carbon, chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) và truy xuất nguồn gốc.
|
| Nông dân Cà Mau thu hoạch tôm. |
Tại Liên minh châu Âu (EU), tôm nhập khẩu phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn khắt khe như: HACCP, ASC, Global GAP và đặc biệt là hệ thống truy xuất nguồn gốc xuyên suốt từ ao nuôi đến bàn ăn. Bên cạnh đó, EU áp dụng ngưỡng dư lượng hóa chất tối đa (MRL) rất nghiêm ngặt. Chỉ cần một lô hàng vi phạm, doanh nghiệp không chỉ chịu thiệt hại kinh tế mà còn đối mặt với nguy cơ bị siết kiểm tra hoặc đình chỉ xuất khẩu. Tại Mỹ, Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) yêu cầu kiểm soát chặt dư lượng các loại kháng sinh cấm. Đồng thời, Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản (SIMP) buộc doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ dữ liệu về chuỗi cung ứng nhằm ngăn chặn hoạt động khai thác và sản xuất bất hợp pháp. Trong khi đó, Nhật Bản-một trong những thị trường có giá trị cao nhất của tôm Việt Nam yêu cầu sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn JAS, đồng thời có các chứng nhận quốc tế như ASC hoặc Global GAP. Không chỉ kiểm soát hóa chất, người tiêu dùng Nhật Bản còn đánh giá rất kỹ những yếu tố cảm quan như độ tươi, màu sắc và tính đồng đều của sản phẩm.
Điểm chung của tất cả yêu cầu này là tính minh bạch của dữ liệu. Chất lượng sản phẩm thôi chưa đủ. Nhà nhập khẩu muốn biết con tôm được nuôi ở đâu, sử dụng loại giống nào, thức ăn gì, có dùng kháng sinh hay không, được thu hoạch và vận chuyển ra sao. Nói cách khác, khả năng chứng minh chất lượng bằng dữ liệu đang trở thành điều kiện tiên quyết để tiếp cận thị trường.
Để đáp ứng yêu cầu đó, không thể chỉ dựa vào doanh nghiệp xuất khẩu hay nhà máy chế biến. Toàn bộ chuỗi giá trị, từ cơ sở sản xuất giống, hộ nuôi, hợp tác xã, thương lái đến doanh nghiệp chế biến đều phải tham gia tạo lập và chia sẻ dữ liệu theo cùng một tiêu chuẩn. Dù nhận thức được tầm quan trọng nhưng cấu trúc sản xuất hiện tại đang tạo ra nhiều rào cản khiến việc đáp ứng truy xuất nguồn gốc trở nên vô cùng khó khăn.
Nút thắt nằm ở tầng đáy của chuỗi giá trị
Là vùng sản xuất tôm trọng điểm của cả nước, những năm qua, nhiều doanh nghiệp ở ĐBSCL đã đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến, nâng cấp nhà máy, xây dựng vùng nguyên liệu và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, phần “mất điểm” nhất trong đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc lại nằm ở khâu sản xuất ban đầu. Tại các trại tôm giống, có tới 30% cơ sở không ghi thông tin nguồn gốc và 70% còn lại vẫn ghi chép thủ công. Đối với hộ nuôi, việc quản lý thức ăn, thuốc thú y, môi trường nước chủ yếu được thực hiện bằng sổ tay hoặc phần mềm Excel.
|
| Nuôi tôm nhỏ lẻ, mật độ cao cũng là rào cản cho truy xuất nguồn gốc. |
Tại hội nghị đối thoại chính sách về phát triển hợp tác xã (HTX) thủy sản bền vững diễn ra ở Cần Thơ, ông Nguyễn Hoàng Huy, đại diện HTX Thủy sản Toàn Thắng (Cần Thơ) thẳng thắn thừa nhận, vài năm gần đây, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gia tăng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu, an toàn thực phẩm, bền vững, giảm phát thải. Tuy nhiên, HTX và hội viên vẫn duy trì cách quản lý dựa vào kinh nghiệm, ghi chép thủ công nên khó có thể đáp ứng những yêu cầu mới.
Cũng chia sẻ tại hội nghị, ở một góc độ khác, đại diện Công ty TNHH Xã hội tôm chứng nhận Minh Phú, ông Trương Hoàng Duy cho biết, không chỉ thiếu dữ liệu, ngành tôm còn đối mặt với thách thức từ quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Mật độ nuôi tôm hiện phổ biến ở mức 100-300 con/m², năng suất đạt 15-25 tấn/ha. Mật độ cao kéo theo nguy cơ lớn về dịch bệnh và biến động môi trường. Trong khi đó, phần lớn diện tích nuôi có quy mô nhỏ, từ 0,1 đến 1ha, khiến việc tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất và thu thập dữ liệu gặp nhiều khó khăn. “Nhật ký nuôi hiện vẫn chủ yếu được ghi bằng tay. Việc quản lý và truy xuất nguồn gốc cho hàng nghìn hộ nuôi nhỏ lẻ là bài toán rất phức tạp. Nhiều mô hình số hóa đã được công ty triển khai nhưng hiệu quả chưa như kỳ vọng”, ông Duy cho biết.
Một điểm nghẽn khác thường ít được nhắc đến là vai trò của thương lái. Hiện nay, phần lớn nguyên liệu tôm vẫn được thu gom thông qua mạng lưới thương lái trước khi vào nhà máy chế biến. Tuy nhiên, nhiều hệ thống truy xuất nguồn gốc mới chỉ tập trung vào người nuôi và doanh nghiệp, trong khi mắt xích trung gian này lại chưa được tích hợp đầy đủ. Nhiều thương lái chưa có mã định danh hoặc công cụ cập nhật dữ liệu, dẫn đến nguy cơ đứt gãy thông tin trong quá trình lưu chuyển nguyên liệu. Bên cạnh đó, tình trạng mua con giống từ nhiều nguồn khác nhau, thiếu hồ sơ chứng nhận vẫn tồn tại ở không ít địa phương, khiến việc truy vết nguồn gốc ngay từ đầu chuỗi sản xuất đã gặp khó khăn.
Tiếp xúc với nhiều nông dân và hộ nuôi từ HTX, Tiến sĩ Trương Minh Thái, Trưởng khoa Công nghệ phần mềm, Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Cần Thơ cho rằng, chi phí đầu tư công nghệ còn khá cao so với khả năng của nhiều hộ nuôi và HTX nhỏ. Nhiều thiết bị, phần mềm phục vụ nông nghiệp thông minh vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, khiến người dân khó tiếp cận. “Điều người nuôi cần không phải là những hệ thống phức tạp mà là các công cụ đơn giản, dễ sử dụng và mang lại hiệu quả rõ ràng. Khi thấy được lợi ích thiết thực trong quản lý sản xuất, giảm rủi ro và mở rộng đầu ra, người dân mới sẵn sàng tham gia vào quá trình số hóa”, Tiến sĩ Trương Minh Thái đề xuất.
Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho rằng: “Cần nâng cao năng lực quản trị dữ liệu của HTX trong toàn bộ chuỗi giá trị. Đẩy nhanh tiến trình số hóa nhưng vẫn bảo đảm đơn giản để HTX và hộ nuôi dễ dàng tiếp cận. Có như thế, mỗi sản phẩm thủy sản khi rời khỏi ao nuôi mới đáp ứng được yêu cầu “căn cước dữ liệu” minh bạch”.






In bài viết