• :
  • :

Vì sao người dùng dễ bị cuốn vào những video ngắn liên tục?

Sức hút của video ngắn không chỉ đến từ nội dung mà còn từ cách các nền tảng được thiết kế để giữ chân người dùng. Nếu thiếu khả năng tự chủ, người dùng, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên, có thể đối mặt với những hệ lụy về khả năng tập trung, thói quen tiếp nhận thông tin và đời sống tinh thần.

Video ngắn đang trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hiện tại, đặc biệt với giới trẻ. Những nội dung chỉ kéo dài vài chục giây, tiết tấu nhanh, hình ảnh bắt mắt, cảm xúc tức thì cùng cơ chế “vuốt để xem tiếp” tạo ra một dòng trải nghiệm gần như không có điểm dừng.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, chính đặc điểm này khiến việc xem video ngắn của người dân rất dễ chuyển từ nhu cầu giải trí sang một thói quen khó kiểm soát. Mỗi khi kết thúc một video, người dùng lập tức được đưa đến một nội dung mới mà gần như không phải chờ đợi.

Trong khi đó, thuật toán ngày càng có khả năng phân tích sở thích thông qua thời gian xem, lượt thích, bình luận, chia sẻ hay những chủ đề người dùng thường tìm kiếm để liên tục cá nhân hóa dòng nội dung. “Người dùng có cảm giác mình đang chủ động lựa chọn, nhưng trên thực tế nhiều khi lại đang được dẫn dắt bởi một chuỗi đề xuất được tối ưu để giữ mình ở lại lâu nhất có thể”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định.

anh-man-hinh-2026-08-17-luc-212424.png

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: Bộ VHTT&DL

Khi sự chú ý trở thành 'mặt hàng'

Điều đáng quan tâm, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, không chỉ nằm ở số giờ mỗi người dành cho video ngắn mà còn ở cách loại nội dung này có thể định hình lại thói quen chú ý và tiếp nhận thông tin.

Khi quen với những nội dung ngắn, liên tục thay đổi và tạo kích thích tức thì, người dùng có thể trở nên thiếu kiên nhẫn với những hoạt động đòi hỏi sự tập trung lâu dài như đọc sách, nghe một bài giảng, nghiên cứu một vấn đề phức tạp hay trò chuyện sâu.

Thông tin bị nén thành những mẩu nội dung ngắn cũng dễ tạo ra tình trạng “biết nhiều mẩu nhưng hiểu ít chiều sâu”. Những vấn đề vốn cần bối cảnh, lập luận và kiểm chứng có thể bị giản lược thành vài câu gây ấn tượng. Từ đó, người dùng dễ đánh đồng điều hấp dẫn với điều đúng, điều được xem nhiều với điều có giá trị, hoặc cảm xúc mạnh với sự thật.

Với trẻ em và thanh thiếu niên, những tác động này còn liên quan đến đời sống tinh thần. Việc thường xuyên tiếp xúc với hình ảnh về cuộc sống hào nhoáng, ngoại hình lý tưởng, thành công nhanh hay những trào lưu được tung hô có thể làm gia tăng tâm lý so sánh, nhu cầu được công nhận và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh video ngắn tự thân không phải là sản phẩm xấu. Đây vẫn là một công cụ truyền thông hiệu quả nếu được sử dụng đúng cách. Vấn đề nằm ở liều lượng, chất lượng nội dung và khả năng tự chủ của người dùng.

Một vấn đề khác được đặt ra là sự cạnh tranh khốc liệt để giành lấy sự chú ý. Trong môi trường mà lượt xem, lượt thích và thời gian giữ chân người dùng trở thành những thước đo quan trọng, nội dung gây sốc, cực đoan hoặc tranh cãi thường có lợi thế hơn những sản phẩm cần thời gian để tiếp nhận.

anh-man-hinh-2026-08-17-luc-212740.png

Người dùng có cảm giác mình đang chủ động lựa chọn, nhưng trên thực tế nhiều khi lại đang được dẫn dắt bởi một chuỗi đề xuất được tối ưu để giữ người xem ở lại lâu nhất có thể. Ảnh: AI

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nếu cơ chế này kéo dài, nó không chỉ tác động đến người sáng tạo mà còn dần thay đổi thị hiếu của công chúng. Người xem có thể quen với nhịp độ ngày càng nhanh, những xung đột ngày càng mạnh và mức độ phô bày ngày càng lớn. Đáng lo ngại hơn, những nội dung dung tục, miệt thị, khoe giàu, kích động tranh cãi hoặc biến đời tư của người khác thành công cụ giải trí có nguy cơ được bình thường hóa khi liên tục nhận được sự chú ý.

Tuy nhiên, ông cho rằng không nên nhìn không gian video ngắn theo hướng bi quan. Đây cũng là cơ hội để kể những câu chuyện về lịch sử, di sản, nghệ thuật, tri thức và những giá trị tốt đẹp của xã hội bằng một ngôn ngữ gần gũi với công chúng trẻ. “Cái đúng cũng cần được kể hay; cái tử tế cũng cần biết cạnh tranh về sự hấp dẫn”, ông nhấn mạnh.

Không thể chỉ yêu cầu người dùng 'tự kiểm soát'

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng thuật toán là một trong những yếu tố làm gia tăng nguy cơ lệ thuộc vào video ngắn. Khi hệ thống ngày càng hiểu người dùng, khả năng dự đoán nội dung khiến họ tiếp tục xem cũng ngày càng chính xác.

Vì vậy, không thể coi nền tảng chỉ là một “đường ống trung tính” và đặt toàn bộ trách nhiệm lên người sử dụng. Các nền tảng quyết định cách thiết kế sản phẩm, cơ chế đề xuất, thông báo, phân phối nội dung và kiếm tiền. Khi có khả năng đưa một nội dung đến hàng triệu người, nền tảng cũng phải chịu trách nhiệm tương xứng với những tác động xã hội có thể dự báo.

Theo ông, cần tăng tính minh bạch của hệ thống đề xuất, bảo vệ trẻ vị thành niên, cung cấp công cụ quản lý thời gian, giảm khả năng khuếch đại nội dung độc hại, lừa dối hoặc cố tình thao túng cảm xúc. Người dùng cũng cần có nhiều quyền hơn trong việc điều chỉnh dòng nội dung được đề xuất.

Từ góc độ quản lý, cần chuyển từ tư duy chỉ xử lý nội dung vi phạm sang quản trị cả rủi ro của hệ thống phân phối: nội dung nào được khuếch đại, vì sao được khuếch đại và nền tảng đã làm gì để hạn chế tác hại.

Cần xây dựng 'sức đề kháng số'

Để hạn chế hệ lụy của video ngắn, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng cần sự phối hợp của gia đình, nhà trường, xã hội và cơ quan quản lý.

Gia đình là tuyến phòng vệ đầu tiên, nhưng thay vì chỉ cấm đoán, cha mẹ cần đồng hành cùng con, trao đổi về nội dung đang xem, thống nhất thời gian sử dụng thiết bị và tạo ra những hoạt động hấp dẫn ngoài màn hình như đọc sách, thể thao, nghệ thuật hay hoạt động cộng đồng.

Nhà trường cũng cần chuyển từ việc chỉ dạy kỹ năng sử dụng công nghệ sang trang bị năng lực sống trong môi trường số: nhận diện tin giả, kiểm chứng nguồn tin, hiểu cách thuật toán vận hành, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị thời gian, nhận biết thao túng cảm xúc và ứng xử có trách nhiệm trên mạng.

anh-man-hinh-2026-08-17-luc-213309.png

Cần xây dựng một hệ sinh thái số vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ người dùng và các giá trị văn hóa. Ảnh: AI

Theo ông, Việt Nam nên hướng tới một khung chuẩn về năng lực và “sức đề kháng số” theo từng độ tuổi, được tích hợp xuyên suốt quá trình giáo dục. Ở tầm chính sách, cần xây dựng một hệ sinh thái số vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ người dùng và các giá trị văn hóa. Những nền tảng có quy mô và sức ảnh hưởng lớn cần có trách nhiệm cao hơn về minh bạch thuật toán, đánh giá rủi ro đối với trẻ em, kiểm soát nội dung độc hại và cung cấp công cụ quản lý thời gian sử dụng.

Bên cạnh đó, cần đầu tư mạnh hơn cho “nguồn cung nội dung tốt”. Các nhà sáng tạo trẻ, nghệ sĩ, bảo tàng, thư viện, trường học, cơ quan báo chí và doanh nghiệp văn hóa cần được khuyến khích chuyển hóa tri thức, lịch sử, di sản, nghệ thuật thành những sản phẩm ngắn, hấp dẫn và phù hợp với ngôn ngữ của nền tảng số.

Chúng ta không thể chỉ yêu cầu người trẻ tránh nội dung xấu nếu không tạo ra đủ nội dung hay”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói.

Mục tiêu cuối cùng, theo ông, không phải là tách con người khỏi công nghệ mà là hình thành một văn hóa sử dụng công nghệ có trách nhiệm: biết tận dụng sức mạnh lan tỏa của video ngắn nhưng không đánh đổi khả năng tập trung, nhân cách và chất lượng đời sống cho những “cú vuốt màn hình” vô tận. Khi đó, video ngắn không chỉ là công cụ giải trí mà còn có thể trở thành phương tiện hiệu quả để giáo dục, sáng tạo và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp.

Tác giả: Trung Nguyễn