Trường chuyên tiệm cận chuẩn quốc tế: Cần tác động, lan tỏa toàn hệ thống
Việc Hà Nội xây dựng Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam và Trường THPT chuyên Chu Văn An trở thành trường chuyên tiệm cận chuẩn quốc tế là một chủ trương đột phá, thể hiện khát vọng nâng tầm giáo dục mũi nhọn của Thủ đô. Nhưng đây cũng là quyết sách cần được nhìn nhận thấu đáo, bởi phía sau một đề án giáo dục, rất cần quan tâm vấn đề công bằng xã hội, hiệu quả ngân sách và triết lý phát triển giáo dục công lập.
Trước hết, phải khẳng định rằng, việc nâng cấp các trường chuyên hàng đầu là cần thiết. Các nước phát triển đều có những mô hình trường tinh hoa, trường năng khiếu hoặc trường khoa học chuyên sâu. Những mô hình ấy cho thấy, giáo dục phổ thông không chỉ có nhiệm vụ bảo đảm mặt bằng chung, mà còn phải biết phát hiện, nuôi dưỡng, nâng đỡ những năng lực vượt trội.
Hà Nội có lý do để đi theo hướng này. Chu Văn An là ngôi trường có truyền thống hơn một thế kỷ, gắn với chiều sâu văn hóa, tinh thần hiếu học và bề dày đào tạo nhân tài. Hà Nội - Amsterdam là biểu tượng của giáo dục mũi nhọn hiện đại, có nhiều thành tích trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế, đồng thời có môi trường học thuật năng động. Nếu hai trường này được đầu tư đúng hướng, sẽ có thể trở thành những trung tâm giáo dục tài năng thực chất, góp phần tạo nguồn học sinh xuất sắc cho đại học, nghiên cứu khoa học, công nghệ và quản trị quốc gia trong tương lai.
|
| Trường THPT Chu Văn An. Ảnh: VGP |
Điểm tích cực của các đề án là đã thoát dần khỏi tư duy coi trường chuyên chủ yếu là nơi luyện thi học sinh giỏi. Hướng tiếp cận mới chú trọng năng lực nghiên cứu, ngoại ngữ học thuật, STEM/STEAM, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, tư duy phản biện, năng lực hợp tác quốc tế và hồ sơ phát triển toàn diện của học sinh. Đó là xu hướng đúng. Một học sinh giỏi trong thời đại mới không chỉ cần giải bài khó, mà phải biết đặt câu hỏi, làm việc nhóm, nghiên cứu độc lập, giao tiếp học thuật, sử dụng công nghệ và có trách nhiệm với xã hội. Nếu làm được như vậy, trường chuyên sẽ không tạo ra “gà nòi cho các kỳ thi”, mà tạo ra những công dân có năng lực dẫn dắt.
Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất cần được đặt ra là công bằng trong tiếp cận giáo dục. Trường chuyên công lập dù định hướng phát triển thế nào thì vẫn phải thuộc về sứ mệnh công. Nếu cơ hội vào học chủ yếu rơi vào nhóm học sinh đô thị, gia đình có điều kiện, được đầu tư học thêm từ sớm, thì mô hình này dễ tạo ra bất bình đẳng. Ngân sách công vô tình phục vụ nhiều hơn cho những người vốn đã có nhiều cơ hội, trong khi học sinh tài năng ở vùng khó khăn, gia đình nghèo hoặc trường phổ thông bình thường khó chen chân vào hệ thống tinh hoa.
Vì vậy, để triển khai hai đề án này, cần có chỉ tiêu rõ ràng về tỷ lệ học sinh được hỗ trợ tài chính, tỷ lệ học sinh từ các gia đình thu nhập thấp, học sinh ở địa bàn khó khăn, học sinh có năng lực đặc biệt nhưng thiếu điều kiện bồi dưỡng. Cần có quỹ học bổng công khai, cơ chế miễn giảm chi phí, hỗ trợ sách vở, thiết bị học tập, ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học, giao lưu quốc tế. Tuyển sinh cũng cần xác lập theo hướng không để lợi thế học thêm quyết định quá lớn. Có thể nghiên cứu bổ sung các hình thức phát hiện tài năng qua hồ sơ năng lực, dự án học thuật, đánh giá tư duy, phỏng vấn học thuật, thay vì chỉ dựa vào một kỳ thi nặng tính luyện thi.
Câu hỏi thứ hai là chi tiêu ngân sách. Việc đầu tư phòng thí nghiệm, thư viện số, hệ thống quản trị dữ liệu, AI, Robotics, STEM, kiểm định quốc tế, đào tạo giáo viên, hợp tác quốc tế đều cần nguồn lực lớn. Vấn đề không phải là có chi hay không, mà là chi thế nào để đúng, trúng và có hiệu quả. Trong giáo dục, những khoản đầu tư dễ nhìn thấy nhất thường là công trình, thiết bị, phần mềm, chứng chỉ. Nhưng những khoản tạo giá trị bền vững nhất lại là con người, chương trình, văn hóa học thuật và cơ chế vận hành.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trường tinh hoa không nhất thiết phải bắt đầu bằng những tòa nhà đắt đỏ hay thiết bị thật hoành tráng. Nhiều trường hàng đầu thế giới thành công nhờ giáo viên giỏi, chuẩn học thuật nghiêm túc, cố vấn nghiên cứu chất lượng, mạng lưới đại học, viện nghiên cứu mạnh và văn hóa học tập bền bỉ. Nhật Bản là ví dụ đáng suy nghĩ. Các trường trung học danh tiếng không chạy theo chứng chỉ quốc tế đại trà, nhưng vẫn đào tạo học sinh có năng lực cạnh tranh rất cao nhờ nền tảng học thuật sâu và kỷ luật trí tuệ. Do đó, Hà Nội cần tránh tâm lý “quốc tế hóa” là trang bị thật nhiều thiết bị nhập ngoại, chạy theo thật nhiều chứng chỉ, hay dạy nhiều môn bằng tiếng Anh một cách hình thức.
Ngân sách nên được ưu tiên theo thứ tự hợp lý. Trước hết là phát triển đội ngũ giáo viên. Giáo viên trường chuyên tiệm cận chuẩn quốc tế không chỉ giỏi chuyên môn, mà phải có năng lực hướng dẫn nghiên cứu, dạy học bằng ngoại ngữ, thiết kế dự án, sử dụng công nghệ và làm cố vấn học thuật cho học sinh. Nếu không có đội ngũ này, phòng lab hiện đại cũng chỉ là tài sản vật chất. Thứ hai là xây dựng chương trình học thật sự sâu, linh hoạt, giảm quá tải, tăng lựa chọn cá nhân hóa và gắn với nghiên cứu. Thứ ba là thiết lập mạng lưới hợp tác với đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức học thuật trong và ngoài nước. Thứ tư là học bổng và hỗ trợ công bằng. Cơ sở vật chất là cần, nhưng phải đi sau yêu cầu học thuật, không nên trở thành điểm xuất phát duy nhất.
Một điều chỉnh quan trọng nữa là phải biến hai trường này thành trung tâm lan tỏa cho toàn hệ thống. Nếu ngân sách công đầu tư rất lớn mà lợi ích chỉ gói gọn trong phạm vi học sinh hai trường, thì sức thuyết phục sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu Chu Văn An và Hà Nội - Amsterdam trở thành nơi thử nghiệm chương trình mới, đào tạo giáo viên nòng cốt, xây dựng học liệu mở, tổ chức trại hè khoa học cho học sinh toàn thành phố, hỗ trợ các trường phổ thông khác về STEM, AI, nghiên cứu khoa học, thì đầu tư ấy sẽ có giá trị xã hội lớn hơn nhiều. Một đồng ngân sách cho trường chuyên cần tạo ra hiệu ứng vượt ra ngoài cổng trường chuyên.
Trường Chu Văn An mạnh ở chiều sâu văn hóa, truyền thống học thuật và tinh thần nhân văn. Trường Hà Nội - Amsterdam mạnh ở năng lực khoa học, ngoại ngữ, sáng tạo và hội nhập. Hai bản sắc ấy cần được giữ làm hạt nhân. Quốc tế hóa đúng nghĩa là làm cho học sinh Việt Nam đủ năng lực đối thoại bình đẳng với thế giới, chứ không phải trở thành phiên bản mờ nhạt của một mô hình ngoại nhập.
Nhìn tổng thể, nên triển khai hai đề án này, nhưng phải triển khai với tinh thần thận trọng, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao. Cần có bộ chỉ số đánh giá hằng năm không chỉ đo số giải thưởng, số chứng chỉ hay số học sinh du học, mà còn đo mức độ công bằng, hiệu quả sử dụng ngân sách, tỷ lệ học sinh được hỗ trợ, mức độ lan tỏa cho hệ thống giáo dục phổ thông, sự hài lòng của phụ huynh học sinh và tác động thực chất đến chất lượng đào tạo. Đề án càng lớn, càng cần cơ chế giám sát công khai.
Giáo dục mũi nhọn là cần thiết, nhưng không được tách rời giáo dục đại chúng. Trường chuyên công lập vừa thúc đẩy giá trị tinh hoa, vừa bảo đảm công bằng, thúc đẩy cả hệ thống giáo dục đi lên. Nếu làm được như vậy, hai đề án này không chỉ nâng tầm hai ngôi trường nổi tiếng của Hà Nội, mà còn góp phần định hình một mô hình giáo dục công lập mới: Chất lượng cao, hội nhập sâu, công bằng hơn và có khả năng lan tỏa. Đó mới là mục tiêu xứng tầm với giáo dục thủ đô văn hiến và hội nhập.





In bài viết