Hành trình tìm về những tọa độ đỏ trên mảnh đất Quảng Trị
Mảnh đất Quảng Trị vốn đã quen thuộc với tôi qua sách báo, phim ảnh và những câu chuyện kể. Nhưng lần này, tôi muốn được tận mắt thấy những nơi lịch sử đã đi qua, để hiểu hơn về những gì từng diễn ra trên mảnh đất này và về giá trị của bình yên hôm nay.
Ngày thứ nhất…
Khi tôi đến Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9, trời đã sáng rõ. Cánh cổng nghĩa trang mở ra giữa màu xanh của cây lá, hai bên là những hàng cờ đỏ nổi bật. Không gian nghĩa trang rộng và tĩnh lặng.
Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 là nơi yên nghỉ của hơn mười nghìn liệt sĩ. Đứng trước những hàng mộ, mắt tôi dừng lại ở từng cái tên trên bia đá. Mỗi cái tên là một cuộc đời, một quê hương, một người đã mãi mãi không trở về.


Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 là nơi yên nghỉ của hơn mười nghìn liệt sĩ. Ảnh: Bảo Anh
Đoàn người lặng lẽ đi vào, tiếng nói tự nhiên nhỏ lại, bước chân cũng chậm đi một nhịp. Chẳng ai bảo ai, nhưng dường như mỗi người đều mang một cảm xúc rất riêng khi đứng trước những phần mộ. Là sự biết ơn, sự tiếc nuối và niềm xúc động trước những con người đã không tiếc máu xương vì độc lập, tự do của đất nước.
Từ Đường 9, chúng tôi đến bến thả hoa bên dòng Thạch Hãn. Nhìn mặt nước phẳng lặng, thật khó hình dung nơi đây từng là một trong những địa điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Những bó hoa lần lượt được thả trôi theo dòng nước. Trong khoảnh khắc ấy, lịch sử hiện ra ngay trước mắt. Tôi nghĩ về những người lính trẻ năm xưa. Họ đã đi qua dòng sông này giữa bom đạn, khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.


Những người lính năm xưa đã đi qua dòng sông này giữa bom đạn, khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Ảnh: Bảo Anh
Đứng trước Thạch Hãn hôm nay, tôi càng thấm thía giá trị của hai chữ “bình yên”. Tôi nhận ra, cách để tri ân đối với những người đã ngã xuống là sống sao cho thật trọn vẹn và xứng đáng với sự hy sinh cao cả ấy.
Buổi chiều hôm đó, tôi ghé thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Từng dãy bia trắng nối tiếp nhau, trải rộng trên những triền đồi. Tôi đã nhiều lần nhìn thấy hình ảnh này trên báo chí, nhưng cảm giác khi đứng giữa nơi đây hoàn toàn khác lạ. Cảm xúc cứ thế trào dâng…
Tôi nghĩ về những người mẹ ở một làng quê nào đó đã chờ con suốt những năm tháng dài. Những người vợ chờ chồng. Những đứa trẻ lớn lên mà chưa từng biết mặt cha.


Nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn. Ảnh: Bảo Anh
Đứng giữa Trường Sơn, tôi hiểu thêm vì sao việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính những người còn thiếu thông tin vẫn luôn là một công việc đặc biệt ý nghĩa. Đó là hành trình đưa những người đã hy sinh trở về với gia đình, cũng là lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về trách nhiệm gìn giữ và tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Ngày thứ hai…
Sáng hôm đó, chúng tôi tiếp tục hành trình về Vĩnh Linh, thăm Địa đạo Vịnh Mốc. Trước mắt chúng tôi là một công trình nằm sâu trong lòng đất - nơi quân và dân Vĩnh Linh từng sống, chiến đấu, che chở cho nhau giữa những năm tháng bom đạn khốc liệt.

Địa đạo Vịnh Mốc. Ảnh: Bảo Anh
Tôi mường tượng về một cuộc sống dưới lòng đất: những căn phòng nhỏ, những lối đi hun hút, những đứa trẻ được sinh ra và cả những gia đình ăn, ngủ giữa mưa bom, bão đạn.
Chỉ khi bước xuống địa đạo, tận mắt nhìn không gian nhỏ hẹp ấy, người ta mới phần nào hình dung được sự khắc nghiệt của chiến tranh và ý chí bám đất, bám làng của người dân nơi đây. Họ không rời bỏ quê hương. Họ đào đất xuống sâu hơn và sống: sống để chiến đấu, để giữ làng, để chờ ngày đất nước thống nhất.


Địa đạo Vịnh Mốc. Ảnh: Bảo Anh
Vịnh Mốc khiến chúng tôi hiểu rằng lịch sử còn được làm nên từ sự kiên cường của những con người bình dị, những người đã biến lòng đất thành nơi trú ẩn, thành mái nhà và thành một phần ký ức không thể quên.
Từ Vịnh Mốc, chúng tôi di chuyển lên Khe Sanh, thăm sân bay Tà Cơn. Giữa lòng chảo Khe Sanh hôm nay, những dấu tích của một căn cứ quân sự từng là điểm nóng của chiến trường nằm bình yên giữa màu xanh của núi rừng.


Những dấu tích của một căn cứ quân sự từng là điểm nóng của chiến trường xưa. Ảnh: Bảo Anh
Không còn tiếng bom, tiếng súng, chỉ còn những hiện vật trong Bảo tàng Chiến thắng Khe Sanh lặng lẽ kể lại một thời khốc liệt. Những bức ảnh, những hiện vật khiến câu chuyện về Khe Sanh trở nên sinh động, rõ ràng hơn.
Tôi đứng khá lâu trước những bức ảnh ấy. Thật khó tin rằng nơi mình đang đứng từng là một chiến trường dữ dội. Chiến tranh đã lùi xa, những dấu vết cũng dần được phủ xanh theo thời gian, nhưng ký ức thì vẫn còn đó. Có lẽ chính sự bình yên của Tà Cơn hôm nay càng khiến tôi cảm nhận rõ hơn những năm tháng khốc liệt mà mảnh đất này đã đi qua.


Bảo tàng Chiến thắng Khe Sanh. Ảnh: Bảo Anh
Rời Tà Cơn, chúng tôi trở lại thành phố và đến thăm Thành cổ Quảng Trị khi chiều đã dần buông. Không gian ở đây vừa trang nghiêm, vừa tĩnh lặng. Những dấu tích còn lại của thành cổ khiến người ta khó hình dung nơi này từng trải qua một mùa hè khốc liệt đến thế nào.


Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Bảo Anh
Tôi nhớ đến Mưa đỏ, bộ phim kể câu chuyện về những người lính trẻ trong cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Họ là những chàng trai ở tuổi đôi mươi, mang theo tuổi trẻ, tình yêu và cả mong muốn được trở về. Thế nhưng, rất nhiều người trong số họ đã mãi mãi ở lại mảnh đất này.
Thành cổ giờ đã xanh màu cây lá, nhưng ký ức về một mùa hè đỏ lửa dường như vẫn còn đó. Đứng nơi đây, tôi càng cảm phục lòng quả cảm, anh dũng của những người lính trẻ đã chiến đấu và hy sinh để giữ từng tấc đất quê hương.

Cầu Hiền Lương. Ảnh: Bảo Anh
Cầu Hiền Lương là điểm dừng chân cuối cùng trong chuyến đi của chúng tôi. Dưới chân cầu, dòng Bến Hải lặng lẽ trôi, êm đềm như chưa từng mang trên mình gánh nặng của những năm tháng chia cắt.
Ngày ấy, tuy hai bờ cách nhau chẳng bao xa, nhưng khoảng cách đoàn tụ lại kéo dài suốt nhiều năm tháng. Biết bao người mẹ đứng bên này bờ ngóng tin con ở phía bên kia, biết bao gia đình phải đợi đến ngày đất nước thống nhất mới có cơ hội đoàn tụ.

Cầu Hiền Lương hôm nay. Ảnh: Bảo Anh
“Hiền Lương một lạch hai dòng
Người tuy bên nớ mà lòng bên ni”.
Hai câu thơ mộc mạc mà chất chứa cả nỗi đau của một thời đất nước chia đôi. Đứng trên cầu Hiền Lương hôm nay, nhìn hai bờ Bến Hải nối liền trong màu xanh yên ả, tôi càng thấm thía giá trị của đất nước trọn vẹn non sông.
Hai ngày ở Quảng Trị khép lại. Nhưng những hàng bia trắng, dòng sông Thạch Hãn, lòng đất Vịnh Mốc, sân bay Tà Cơn, Thành cổ Quảng Trị, cầu Hiền Lương… vẫn ở lại trong tôi như những lát cắt của một trang lịch sử hào hùng.
Rời Quảng Trị, tôi trân trọng hơn những ngày bình yên mình đang có. Bởi tôi hiểu, sự bình yên ấy phải đánh đổi bằng máu, nước mắt, tuổi xuân của biết bao nhiêu người con ưu tú - những người đã ngã xuống để viết nên bản hùng ca bất tử cho mảnh đất này.




In bài viết