• :
  • :

Đề xuất hỗ trợ 3,795 triệu đồng/tháng với sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh dân tộc thiểu số rất ít người

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh là người dân tộc thiểu số rất ít người được hỗ trợ học tập 3.795.000 đồng/người/tháng. Dự thảo cũng quy định mức hỗ trợ cụ thể đối với từng nhóm người học và bổ sung một tháng hỗ trợ đối với người học tiếng Việt trước khi vào lớp Một.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người. Theo dự thảo, người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người được đề xuất hưởng mức hỗ trợ học tập khác nhau tùy theo cấp học, loại hình cơ sở giáo dục và hình thức học tập.

Đề xuất mức hỗ trợ từ 759.000 đồng đến 3.795.000 đồng/người/tháng

Cụ thể, người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người học tại cơ sở giáo dục mầm non được hưởng chính sách hỗ trợ học tập mức 759.000 đồng/người/tháng.

Người học tại cơ sở giáo dục phổ thông, trường trung học nghề hoặc học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông được hưởng mức 1.012.000 đồng/người/tháng.

Người học là học sinh bán trú, học viên bán trú theo quy định tại Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ được hưởng mức hỗ trợ 1.518.000 đồng/người/tháng.

Đối với người học tại trường phổ thông nội trú, nếu là học sinh bán trú buổi trưa được hưởng mức 1.012.000 đồng/người/tháng; nếu là học sinh nội trú được hưởng mức 1.518.000 đồng/người/tháng.

Người học tại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, trường trung cấp, trường cao đẳng được hưởng mức hỗ trợ 2.530.000 đồng/người/tháng.

Đối với sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh tại cơ sở giáo dục đại học, mức hỗ trợ được đề xuất là 3.795.000 đồng/người/tháng.

Học tiếng Việt trước khi vào lớp Một được hỗ trợ thêm một tháng

Về thời gian hưởng, dự thảo quy định người học có thời gian học đủ 9 tháng/năm được hưởng chính sách hỗ trợ trong 12 tháng/năm.

Trường hợp không đủ 9 tháng/năm và trong năm học cuối cấp, người học được hưởng theo số tháng thực học.

Số năm học được hưởng chính sách không vượt quá số năm tối đa để hoàn thành chương trình giáo dục, đào tạo tương ứng với chương trình giáo dục, ngành học theo quy định, trừ trường hợp được quy định riêng tại dự thảo.

Đáng chú ý, người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người có học tiếng Việt trước khi vào học chương trình lớp Một được hưởng thêm 1 tháng hỗ trợ trong năm học lớp Một.

Chỉ hưởng một chính sách có mức hỗ trợ cao nhất nếu nội dung hỗ trợ trùng nhau

Dự thảo cũng quy định cụ thể nguyên tắc hưởng chính sách nhằm tránh trùng lặp giữa các khoản hỗ trợ. Theo đó, trường hợp người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người đồng thời thuộc đối tượng hưởng nhiều chính sách có nội dung hỗ trợ trùng nhau thì chỉ được hưởng một chính sách có mức hỗ trợ cao nhất.

Người học tại cơ sở giáo dục mầm non đã được hưởng chính sách hỗ trợ học tập theo Nghị định này thì không hưởng chính sách hỗ trợ ăn trưa và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định số 277/2025/NĐ-CP ngày 20/10/2025.

Người học tại cơ sở giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục thường xuyên đã được hưởng chính sách hỗ trợ học tập theo Nghị định này thì không hưởng chính sách hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025.

Người học là trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú đã được hưởng hỗ trợ học tập theo Nghị định này thì không hưởng chính sách hỗ trợ tiền ăn theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025.

Người học tại trường phổ thông nội trú đã được hưởng chính sách hỗ trợ học tập theo Nghị định này thì không hưởng chính sách hỗ trợ tiền ăn theo Nghị định số 188/2026/NĐ-CP ngày 27/5/2026.

Đối với người học tại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, dự thảo quy định chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ học tập theo Nghị định này hoặc học bổng chính sách theo Nghị định số 66/2026/NĐ-CP ngày 2/3/2026.

Sinh viên tại cơ sở giáo dục đại học đã được hưởng chính sách hỗ trợ học tập theo Nghị định này thì không hưởng hỗ trợ chi phí học tập theo Quyết định số 66/2013/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên đã hưởng chính sách hỗ trợ học tập theo Nghị định này thì không hưởng học bổng chính sách theo Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 và không hưởng hỗ trợ chi phí học tập theo Quyết định số 66/2013/QĐ-TTg.

Đối với sinh viên sư phạm đồng thời thuộc đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt theo Nghị định số 116/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 60/2025/NĐ-CP, dự thảo quy định đối với khoản hỗ trợ có cùng tính chất, người học chỉ được hưởng một chính sách có mức hỗ trợ cao nhất.

Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh đồng thời thuộc đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí theo Nghị định số 176/2026/NĐ-CP ngày 19/5/2026.