• :
  • :

Không thể bỏ qua những nguyên tắc khoa học về làm sách giáo khoa!

Để đảm bảo tiến độ thực hiện chương trình mới ở lớp 2 và lớp 6 theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 vào năm học 2021-2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) yêu cầu các địa phương phải chọn xong sách giáo khoa (SGK) trước ngày 5-4. Tuy nhiên, đến thời điểm này, nhiều nơi vẫn tỏ ra khá bị động trong việc triển khai.

Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Điện tử đã có cuộc trao đổi với chuyên gia Đặng Tự Ân, Giám đốc Quỹ hỗ trợ đổi mới Giáo dục phổ thông Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD-ĐT) về vấn đề này.

Phóng viên (PV): Thưa ông, thời gian đưa ra quyết định lựa chọn SGK của các địa phương còn rất ít, tuy nhiên, vừa qua nhiều trường mới chỉ được tiếp cận với phiên bản SGK điện tử, chưa có bản SGK giấy. Điều này có ảnh hưởng thế nào tới giáo viên và chất lượng lựa chọn SGK?

Chuyên gia Đặng Tự Ân, Giám đốc Quỹ hỗ trợ đổi mới Giáo dục phổ thông Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD&ĐT). 

Chuyên gia Đặng Tự Ân: Có thể hình dung giáo viên sẽ gặp không ít khó khăn. Nhiều giáo viên dạy cùng một cuốn sách, thì khi tìm hiểu lựa chọn phải được “mục sở thị”, chứ không thể nghiên cứu SGK dưới dạng “ảo” được. Nhất là đối với SGK lớp 6, số lượng đầu sách nhiều, có những môn học mới, tích hợp như Khoa học tự nhiên (tích hợp các mạch kiến thức của môn Vật lý, Hóa học, Sinh học) hay hai môn Lịch sử và Địa lý tích hợp thành một môn Lịch sử và Địa lý. Bởi vậy, nhóm giáo viên cùng dạy tích hợp phải ngồi lại xem SGK phần mình giảng dạy đến đâu, nội dung được tinh giản, tích hợp như thế nào với môn học khác; phân công ai dạy các chuyên đề liên môn và dạy như thế nào...

Chậm in SGK cũng là điều tất yếu của các nhà xuất bản (NXB), bởi vì họ cần chỉnh sửa lại bản thảo và thăm dò thị trường trước khi in và phát hành rộng rãi. Trong trường hợp này các cơ quan chức năng Nhà nước phải vào cuộc, tháo gỡ cho họ. Hơn nữa, đây là lần thứ hai làm SGK, thì khó có lý do thuyết phục về sự chậm trễ và không chu đáo như thế được.

PV: Theo phê duyệt của Bộ GD-ĐT, SGK lớp 2, lớp 6 chỉ còn 3 bộ. Trong đó, NXB Giáo dục Việt Nam chỉ còn hai bộ SGK, thay vì 4 bộ như lớp 1, năm học 2020-2021. Ông nghĩ sao về việc hợp nhất 4 bộ sách thành 2 bộ để tập trung nguồn lực như giải thích của NXB Giáo dục Việt Nam?

Chuyên gia Đặng Tự Ân: Việc hợp nhất này không đúng với khoa học SGK, gây khó khăn, bất an trong cha mẹ học sinh và làm xáo trộn trong xã hội.

Chương trình giáo dục phổ thông đúng là pháp lệnh, còn SGK chỉ là một trong những phương án hay học liệu riêng để giảng dạy. Thực chất, mỗi bộ SGK có một giá trị, một cách tiếp cận khác về nội dung và về phương pháp trình bày. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý giáo dục cũng đã khuyến cáo cần có đủ các bộ SGK để giáo viên có điều kiện lựạ chọn một bài giảng tốt nhất, có hiệu quả nhất cho mình. Để có được bộ SGK, những người làm sách đã mất công nhiều tháng trời hội thảo, trăn trở tìm ra cơ sở lý luận và thực tiễn của bộ sách, để rồi xây dựng bài học mẫu trước khi dạy thử nghiệm.

Chính trong cuốn sách “Đổi mới và hiện đại hóa Chương trình và SGK” của NXB Giáo dục Việt Nam cũng ghi SGK cần sử dụng lâu dài. Đặc biệt, trong một hội nghị trực tuyến, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cũng chỉ đạo các nhà trường như vậy. Không thể để giáo viên và cha mẹ học sinh hụt hẫng khi họ mất công cùng nhau suy nghĩ chọn ra bộ SGK mà chỉ dùng được một năm; còn thư viện nhà trường năm tới phải bỏ đi hàng vạn cuốn sách lớp 1. Trường học ở nơi vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn chắc là thiệt thòi nhất về mặt kinh tế.

Bộ SGK "Cùng học để phát triển năng lực".  

PV: Rút kinh nghiệm với việc phải chỉnh sửa một số nội dung ở bộ SGK lớp 1 khi đã đi vào giảng dạy, bộ SGK lớp 2 và 6 nên triển khai như thế nào, thưa ông?

Chuyên gia Đặng Tự Ân: Trước hết, Bộ GD&ĐT và những ai tham gia trực tiếp làm sách, cần có suy nghĩ mới, bỏ lối tư duy xưa cũ khi mà cả nước có duy nhất một bộ “sách công” và được bao cấp bởi ngân sách nhà nước. SGK xã hội hóa trong cơ chế thị trường phải được giám sát chặt chẽ hơn từ các cơ quan chuyên môn của Bộ GD&ĐT. Không thể để các NXB vì lợi nhuận kinh tế mà bỏ qua những nguyên tắc khoa học và sự yên dân, cũng như vi phạm quyền lợi của học sinh và phụ huynh.

Cùng với đó, song song với kiểm tra, giám sát là sự hỗ trợ kịp thời những khó khăn bất khả kháng mà các NXB gặp phải trong quá trình tác nghiệp làm SGK. Chẳng hạn, khi NXB Giáo dục Việt Nam muốn thu gọn lại các bộ SGK, Bộ GD-ĐT phải bằng quyền hạn quản lý nhà nước của mình để tác động tới các NXB (ngoài NXB Giáo dục Việt Nam) liên kết với các nhóm tác giả làm SGK, để không cho “biến mất” các bộ SGK như vừa qua.

Cùng với đó, việc tập huấn cho giáo viên thời gian quá ngắn, bản thảo SGK dạy thực nghiệm sơ sài... cũng là những vấn đề cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

PV: Theo Chương trình phổ thông 2018, chương trình là pháp lệnh, sách giáo khoa chỉ là tài liệu tham khảo quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề SGK thay đổi lại khiến nhiều người băn khoăn, lúng túng. Xin ông cho biết quan điểm về vấn đề này?

Chuyên gia Đặng Tự Ân: Không dễ gì một sớm một chiều khiến giáo viên có thể thay đổi và coi SGK là tài liệu tham khảo được. Nhiều khảo sát quốc tế cho thấy, ở những quốc gia có chủ trương dùng nhiều bộ SGK khác nhau trong cùng chương trình chuẩn quốc gia, số giáo viên sử dụng SGK làm tài liệu chính khi lên lớp chiếm tới hơn 60%. Giáo dục Việt Nam lần đầu có chủ trương mỗi môn học có nhiều hơn một bộ SGK, thì việc giáo viên lúng túng là điều không tránh khỏi.

Để hướng tới nền giáo dục thoát ly SGK, giáo viên thường có 4 cấp độ khác nhau: Bài soạn dạy học chính là SGK; thay đổi hoạt động học hoặc ví dụ bài học; điều chỉnh phương pháp cùng thay đổi chút ít nội dung bài học; bài soạn dạy học hoàn toàn do giáo viên lựa chọn và xây dựng từ các bộ SGK khác nhau.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!